Lên đầu trang

Quy định về xử lý tài sản đảm bảo thi hành án và xử lý vi phạm đối với người phải thi hành án cố ý không chấp hành án

Theo quyết định 02 Quyết định của Tòa án thị xã N(ban hành tháng 3/2016) thì bà T phải trả cho tôi số tiền tổng cộng là: 50.000.000 đ (Năm mươi triệu đồng). Tuy nhiên, đến nay bà Phùng Thị Thùy Trang chưa trả cho tôi khoản tiền nào.
Hỏi: Tôi phải gửi đơn đến cơ quan nào để được giải quyết việc thi hành án? Hiện bà T vẫn ở nơi cư trú nhưng tài sản bà đã tẩu tán hết. Tôi có thể khởi kiện bà T về tội không chấp hành án không? Nếu hết thời hạn tự nguyện thi hành án bà T vẫn chưa trả cho tôi thì phải xử lý như thế nào?

Gửi bởi: Hồ Ngọc Anh

Trả lời có tính chất tham khảo

Trường hợp bạn hỏi chúng tôi không có hồ sơ thi hành án; không rõ nội dung vụ việc nên chúng tôi trả lời bạn như sau:
Theo quy định tại khoản 1 Điều 30 Luật Thi hành án dân sự quy định: Người được yêu cầu thi hành án có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền ra quyết định thi hành án trong thời hạn 05 năm, kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật. Do đó, bạn cần liên hệ Chi cục Thi hành án dân sự thị xã N để được xem xét giải quyết việc thi hành án.
Trường hợp bà T không tự nguyện thi hành án mà có điều kiện thi hành án thì Chấp hành viên sẽ cưỡng chế, kê biên xử lý tài sản của bà T để thi hành án cho bạn. Tuy nhiên, theo nội dung mà bạn cung cấp thì bà T đã tẩu tán hết tài sản, hiện không còn tài sản để thi hành án. Về nội dung này chúng tôi không rõ bà T tẩu tán tài sản trước khi có quyết định của tòa án hay sau khi có quyết định của tòa án. Theo khoản 1 Điều 24 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự quy định: Nếu bà T chuyển dịch tài sản cho người khác thì tài sản đó vẫn bị kê biên, xử lý để thi hành án, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Khi kê biên tài sản, nếu có người khác tranh chấp thì Chấp hành viên thông báo cho đương sự, người có tranh chấp thực hiện theo quy định tại Khoản 1 Điều 75 Luật Thi hành án dân sự.
Trường hợp bà T đã chuyển dịch hết tài sản trước khi có quyết định của tòa án, không có điều kiện thi hành án thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định về việc chưa có điều kiện thi hành án theo quy định tại khoản 18 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự:
“1. Căn cứ kết quả xác minh điều kiện thi hành án, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định về việc chưa có điều kiện thi hành án khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Người phải thi hành án không có thu nhập hoặc có thu nhập chỉ bảo đảm cuộc sống tối thiểu cho người phải thi hành án, người mà họ có trách nhiệm nuôi dưỡng và không có tài sản để thi hành án hoặc có tài sản nhưng giá trị tài sản chỉ đủ để thanh toán chi phí cưỡng chế thi hành án hoặc tài sản theo quy định của pháp luật không được kê biên, xử lý để thi hành án;
b) Người phải thi hành án phải thi hành nghĩa vụ về trả vật đặc định nhưng vật phải trả không còn hoặc hư hỏng đến mức không thể sử dụng được; phải trả giấy tờ nhưng giấy tờ không thể thu hồi và cũng không thể cấp lại được mà đương sự không có thỏa thuận khác;
c) Chưa xác định được địa chỉ, nơi cư trú của người phải thi hành án, người chưa thành niên được giao cho người khác nuôi dưỡng.
2. Thông tin về tên, địa chỉ, nghĩa vụ phải thi hành của người phải thi hành án chưa có điều kiện thi hành được đăng tải trên trang thông tin điện tử về thi hành án dân sự và gửi cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi xác minh để niêm yết. Khi người phải thi hành án có điều kiện thi hành thì cơ quan thi hành án phải tổ chức thi hành.
Chính phủ quy định chi tiết khoản này”.
Trường hợp bà T có điều kiện thi hành án mà cố ý không chấp hành quyết định của tòa án; không tự nguyện thi hành các quyết định về thi hành án thì tùy theo tính chất và mức độ vi phạm mà bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật theo quy định tại khoản 1 Điều 165 Luật Thi hành án dân sự.
 

Trả lời bởi: Nguyễn Thị Thu Hằng