Lên đầu trang

Xin Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân để kết hôn

Tôi sinh năm 1960. Trước năm 1983, tôi có chung sống như vợ chồng với bà Nguyễn Thị Vui và đã có con chung. Chúng tôi có đăng ký giấy khai sinh cho cháu, trong đó, ghi đầy đủ cả thông tin của cha lẫn mẹ. Đến năm 1990, bà Vui bỏ đi theo người khác. Giờ tôi muốn xác nhận tình trạng hôn nhân để kết hôn với người khác thì làm như thế nào?

Gửi bởi: Nguyễn Bằng

Trả lời có tính chất tham khảo

1. Xác định có hay không quan hệ hôn nhân giữa ông và bà Vui
Khoản 2 Điều 44 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch quy định: “Đối với trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng trước ngày 03 tháng 01 năm 1987 mà chưa đăng ký kết hôn thì được khuyến khích và tạo điều kiện để đăng ký kết hôn. Quan hệ hôn nhân được công nhận kể từ ngày các bên xác lập quan hệ chung sống với nhau như vợ chồng”.
Tại khoản 1 Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định như sau: “Quan hệ hôn nhân và gia đình được xác lập trước ngày Luật này có hiệu lực thì áp dụng pháp luật về hôn nhân và gia đình tại thời điểm xác lập để giải quyết”.
Theo điểm a Mục 3 Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 9/6/2000 của Quốc hội về việc thi hành Luật hôn nhân và gia đình thì: “Trong trường hợp quan hệ vợ chồng được xác lập trước ngày 03 tháng 01 năm 1987, ngày Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 có hiệu lực mà chưa đăng ký kết hôn thì được khuyến khích đăng ký kết hôn; trong trường hợp có yêu cầu ly hôn thì được Toà án thụ lý giải quyết theo quy định về ly hôn của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000”.
Mặt khác, tại điểm d Mục 2 Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC- BTP ngày 3/1/2001 của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 9/6/2000 của Quốc hội về việc thi hành Luật hôn nhân và gia đình có hướng dẫn như sau:
Được coi nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng, nếu họ có đủ điều kiện để kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 và thuộc một trong các trường hợp sau đây:
- Có tổ chức lễ cưới khi về chung sống với nhau;
- Việc họ về chung sống với nhau được gia đình (một bên hoặc cả hai bên) chấp nhận;
- Việc họ về chung sống với nhau được người khác hay tổ chức chứng kiến;
- Họ thực sự có chung sống với nhau, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau xây dựng gia đình.
Thời điểm nam và nữ bắt đầu chung sống với nhau như vợ chồng là ngày họ tổ chức lễ cưới hoặc ngày họ về chung sống với nhau được gia đình (một hoặc cả hai bên) chấp nhận hoặc ngày họ về chung sống với nhau được người khác hay tổ chức chứng kiến hoặc ngày họ thực sự bắt đầu chung sống với nhau, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau xây dựng gia đình”.
Như vậy, đối với trường hợp nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng trước ngày 03/01/1987 mà chưa đăng ký kết hôn thì vẫn được pháp luật công nhận là vợ chồng (hôn nhân thực tế), kể từ ngày các bên xác lập quan hệ chung sống với nhau như vợ chồng.
Đối chiếu với trường hợp trên, quan hệ chung sống giữa ông và bà Vui được công nhận là quan hệ vợ chồng (hôn nhân thực tế). Theo thông tin mà ông cung cấp thì tính đến thời điểm hiện tại, quan hệ hôn nhân thực tế của 02 người vẫn chưa chấm dứt bởi Bản án/Quyết định ly hôn của Tòa án. Do đó, nếu ông có yêu cầu cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân thì trong Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân vẫn xác định rõ: “Hiện đang có vợ là bà Nguyễn Thị Vui”.
2. Các thủ tục cần làm để xác nhận tình trạng hôn nhân nhằm mục đích kết hôn với người khác
Tại khoản 1 Điều 22 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch quy định: “Trường hợp yêu cầu xác nhận tình trạng hôn nhân nhằm mục đích kết hôn thì người yêu cầu phải đáp ứng đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình”.
Căn cứ vào quy định trên và quy định tại Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, để xác nhận tình trạng hôn nhân nhằm mục đích kết hôn, ông cần làm các thủ tục sau:
(1) Ly hôn với bà Vui: Ông cần nộp đơn xin ly hôn tại Tòa án nhân dân cấp huyện nơi bà Vui cư trú, làm việc để yêu cầu giải quyết ly hôn.
(2) Yêu cầu xác nhận tình trạng hôn nhân sau khi có Bản án/Quyết định ly hôn của Tòa án:
Về thẩm quyền, Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi thường trú của ông thực hiện việc cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân (căn cứ khoản 1 Điều 21 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP).
Về thủ tục cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân (căn cứ Điều 22 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP):
- Người yêu cầu xác nhận tình trạng hôn nhân nộp Tờ khai theo mẫu quy định tại Phụ lục V kèm theo Thông tư số 15/2015/TT-BTP ngày 16 tháng 11 năm 2015 của Bộ Tư pháp quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật hộ tịch và Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15 tháng 11 năm 2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật hộ tịch.
- Trường hợp người yêu cầu xác nhận tình trạng hôn nhân đã có vợ hoặc chồng nhưng đã ly hôn thì phải xuất trình hoặc nộp giấy tờ hợp lệ để chứng minh (Bản án/Quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án về việc ly hôn).
- Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, công chức tư pháp - hộ tịch kiểm tra, xác minh tình trạng hôn nhân của người có yêu cầu. Nếu người yêu cầu có đủ điều kiện, việc cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân là phù hợp quy định pháp luật thì công chức tư pháp - hộ tịch trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân ký cấp 01 bản Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân cho người có yêu cầu. Nội dung Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân phải ghi đúng tình trạng hôn nhân của người có yêu cầu và mục đích sử dụng Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân.
 

Trả lời bởi: ;#;#