Lên đầu trang

Điều kiện hưởng án treo

Chồng tôi bị truy cứu trách nhiệm hình sự vào tội lừa đảo tài sản với giá trị khoảng 13.000.000 đồng và đã hoàn trả. Ngoài ra, chồng tôi còn là đảng viên tốt mới đi nghĩa vụ về, do tôi có thai nên lừa đảo để có tiền. Chồng tôi có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, thành khẩn khai báo và đã ăn năn hối cải. Cho tôi hỏi chồng tôi có thể được hưởng án treo không?

Gửi bởi: Trần Thùy Trang

Trả lời có tính chất tham khảo

Điều 65 BLHS năm 2015, (sửa đổi, bổ sung năm 2017) bắt đầu có hiệu lực kể từ ngày 1/1/2018 có quy định về án treo, cụ thể như sau:
1. Khi xử phạt tù không quá 03 năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù, thì Tòa án cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách từ 01 năm đến 05 năm và thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật Thi hành án hình sự.
2. Trong thời gian thử thách, Tòa án giao người được hưởng án treo cho cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc hoặc chính quyền địa phương nơi người đó cư trú để giám sát, giáo dục. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người đó.
3. Tòa án có thể quyết định áp dụng đối với người được hưởng án treo hình phạt bổ sung nếu trong điều luật áp dụng có quy định hình phạt này.
4. Người được hưởng án treo đã chấp hành được một phần hai thời gian thử thách và có nhiều tiến bộ thì theo đề nghị của cơ quan, tổ chức có trách nhiệm giám sát, giáo dục, Tòa án có thể quyết định rút ngắn thời gian thử thách.
5. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này.
Theo đó, án treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện, một mặt có tác dụng tạo điều kiện cho người bị kết án được học tập, lao động và công hiến cho xã hội như những công dân bình thường khác, mặt khác, khuyến khích người bị kết án tự tu dưỡng và lao động tại cộng đồng với sự giúp đỡ tích cực của gia đình, xã hội, đồng thời cảnh báo người bị kết án nếu vi phạm nghĩa vụ hoặc phạm tội mới trong thời gian thử thách thì họ sẽ phải chịu hậu quả pháp lý rất nặng là phải buộc phải chấp hành hình phạt đã tuyên.
 
Để được hưởng án treo, người bị kết án phải thỏa mãn các điều kiện sau các điều kiện sau:
+ Điều kiện thứ nhất,  về mức hình phạt tù
Mức hình phạt tù là căn cứ đầu tiên để Tòa án xem xét cho người bị kết án được hưởng án treo, theo đó, người bị Tòa án phạt tù không quá 03 năm. Theo Nghị quyết 01/2013/NQ-HĐTP ngày 6/11/2013 về hướng dẫn áp dụng Điều 60 của BLHS năm 1999 (Nghị quyết số 01/2013/NQ-HĐTP), về mức hình phạt tù, chỉ xem xét cho người bị xử phạt tù hưởng án treo khi bị xử phạt tù không quá 03 năm về tội ít nghiêm trọng, tội nghiêm trọng, tội rất nghiêm trọng theo phân loại tội phạm quy định tại khoản 3 Điều 8 của BLHS (mà không áp dụng đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng). Trường hợp người bị xét xử trong cùng một lần về nhiều tội mà khi tổng hợp hình phạt, hình phạt chung không quá 03 năm tù, thì cũng có thể cho hưởng án treo . Tuy nhiên, trường hợp này phải được xem xét thận trọng và chặt chẽ để quyết định có cho hưởng án treo hay không.
+ Điều kiện thứ hai, về nhân thân người phạm tội
Nhân thân người phạm tội đó là tổng hợp những đặc điểm riêng về mặt xã hội hoặc có ý nghĩa về mặt xã hội của người phạm tội, những đặc điểm nhân thân có thể là tuổi, giới tính, nghề nghiệp, có án tích hay không (tái phạm, tái phạm nguy hiểm…), trình độ văn hóa, hệ thống giá trị, thái độ… . Đặc điểm nhân thân người phạm tội không chỉ là căn cứ quan trọng của quyết định hình phạt mà còn là căn cứ cần thiết để xem xét người phạm tội với điều kiện cụ thể có khả năng tự giáo dục, cải tạo hay không để quyết định cho hưởng áp treo. Theo quy định của tại Khoản 1 Điều 65 BLHS năm 2015, về điều kiện nhân thân người phạm tội, để được hưởng án treo, người phạm tội phải có nhân thân tốt. Theo hướng dẫn tại Nghị quyết 01/2013/NQ-HĐTP, thì có nhân thân tốt được chứng minh là ngoài lần phạm tội này họ luôn tôn trọng các quy tắc xã hội, chấp hành đúng chính sách, pháp luật, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của công dân nơi cư trú, công tác; không vi phạm các điều mà pháp luật cấm; chưa bao giờ bị kết án, bị xử lý vi phạm hành chính, bị xử lý kỷ luật .
Cũng theo hướng dẫn Nghị quyết 01/2013/NQ-HĐTP, một số trường hợp áp dụng án treo phải được xem xét hết sức chặt chẽ, đó là: (i) Trường hợp người phạm tội có án tích nhưng đã được xóa án tích, được đương nhiên xóa án tích,  được coi là chưa bị kết án và (ii) trường hợp người phạm tội đã bị xử lý hành chính, xử lý kỷ luật nhưng đã hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật hoặc hết thời hiệu xử lý vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật thì được coi là chưa bị xử lý hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật, nhưng không phải là có nhân thân tốt. Chỉ có thể xem xét cho hưởng án treo khi thuộc một trong các trường hợp sau:
- Người bị kết án từ trên 3 năm tù đến 15 năm tù về tội do cố ý (kể cả trường hợp tổng hợp hình phạt của nhiều tội hoặc nhiều bản án) mà thời gian được xóa án tích tính đến ngày phạm tội lần này đã quá 2 năm;
- Người bị kết án đến 3 năm tù về tội do cố ý mà thời gian được xóa án tích tính đến ngày phạm tội lần này đã quá 1 năm;
- Người bị kết án về các hình phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ mà thời gian được xóa án tích tính đến ngày phạm tội lần này đã quá 1 năm;
- Người bị kết án về các tội do vô ý mà đã được xóa án tích;
- Người đã bị đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc từ hai lần trở lên mà thời gian được coi là chưa bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính tính đến ngày phạm tội lần này đã quá 2 năm;
- Người đã bị đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc một lần và có nhiều lần bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc xử lý kỷ luật mà thời gian được coi là chưa bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật tính đến ngày phạm tội lần này đã quá 2 năm;
- Người đã bị đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc mà thời gian được coi là chưa bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính tính đến ngày phạm tội lần này đã quá 18 tháng;
- Người đã bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc xử lý kỷ luật từ hai lần trở lên mà thời gian được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật tính đến ngày phạm tội lần này đã quá 18 tháng;
- Người đã bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc xử lý kỷ luật về hành vi có cùng tính chất với hành vi phạm tội lần này mà thời gian được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật tính đến ngày phạm tội lần này đã quá 1 năm;
- Người đã bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc xử lý kỷ luật mà thời gian được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật tính đến ngày phạm tội lần này đã quá 6 tháng;
- Người đã bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn, đưa vào trường giáo dưỡng hoặc đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đã hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý hành chính;
Khi đánh giá nhân thân người phạm tội phải xem xét toàn diện tất cả những đặc điểm về nhân thân, trong đó cần chú ý, những đặc điểm nhân thân ảnh hưởng đến khả năng tự giáo dục, cải tạo. Thái độ của người phạm tội sau khi gây án và khi bị xét xử cũng có ý nghĩa nhất định đến việc cho họ được hưởng án treo hay không.
+ Điều kiện thứ ba, về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
Các tình tiết giảm nhẹ để xem xét cho hưởng án treo phải là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015, cũng như các tình tiết giảm nhẹ được Tòa án các định trong từng vụ án cụ thể (phù hợp quy định của khoản 2 Điều 51 BLHS năm 2015).
Tòa án xem xét cho hưởng án treo là phải cân nhắc cả về tính chất và số lượng các tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thuộc về người bị kết án, nhằm bảo đảm cho việc hưởng án treo được áp dụng một cách chặt chẽ, nghiêm túc. Theo hướng dẫn của Nghị quyết 01/2013/NQ-HĐTP, Tòa án chỉ cho hưởng án treo nếu thuộc các trường hợp sau:
- Không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 48 của BLHS năm 1999 (nay là Điều 52 BLHS năm 2015) và có từ hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trở lên trong đó có ít nhất một tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 của BLHS (nay là Điều 51 BLHS năm 2015);
- Nếu có một tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thì phải có từ ba tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trở lên, trong đó có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 của BLHS (nay là Điều 51 BLHS năm 2015).
+ Điều kiện thứ 4, thuộc trường hợp không cần bắt buộc chấp hành hình phạt tù
Khi áp dụng án treo, Tòa án chủ yếu dựa vào 03 căn cứ nêu trên để có thể kết luận khả năng tự giáo dục, cải tạo của người bị kết án tù với sự giúp đỡ của cơ quan, tổ chức, xã hội, nhà trường và gia đình… Mặt khác, Tòa án phải đối chiếu với yêu cầu phòng ngừa và chông tội phạm ở từng loại tội trong môi trường xã hội cụ thể của từng thời kỳ. Người phạm tội thuộc trường hợp được hưởng án treo phải là người thực sự có khả năng tự hoàn lương trong môi trường xã hội cụ thể, không có nguy cơ tái phạm, bởi tính chất loại tội phạm họ dã thực hiện cũng như do ảnh hưởng xấu của đối tượng xung quanh.
Theo hướng dẫn tại Nghị quyết 01/2013/NQ-HĐTP thì không cho hưởng án treo nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:
- Người phạm tội thuộc đối tượng cần phải nghiêm trị quy định tại khoản 2 Điều 3 của BLHS năm 1999 (nay là khoản 1 Điều 3 BLHS năm 2015) bao gồm: người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, ngoan cố chống đối, lưu manh, côn đồ, tái phạm nguy hiểm, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội; người phạm tội dùng thủ đoạn xảo quyệt, có tổ chức, có tính chất chuyên nghiệp, cố ý gây hậu quả nghiêm trọng; phạm tội đặc biệt nghiêm trọng;
- Bị xét xử trong cùng một lần về nhiều tội;
- Trong hồ sơ thể hiện là ngoài lần phạm tội và bị đưa ra xét xử, họ còn có hành vi phạm tội khác đã bị xét xử trong một vụ án khác hoặc đang bị khởi tố, điều tra, truy tố trong một vụ án khác;
- Bị cáo tại ngoại bỏ trốn trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Tòa án đã đề nghị cơ quan điều tra truy nã.
Như vậy, trong trường hợp trên của bạn, nếu chồng của bạn đáp ứng được các điều kiện trên thì Tòa án có thể sẽ có hưởng án treo.
 
 

Trả lời bởi: ;#Ngô Thanh Xuyên - Viện Khoa học pháp lý;#