Lên đầu trang

Quy định về xác định, phân chia, xử lý tài sản chung để thi hành án và xử lý tài sản kê biên thuộc sở hữu chung đã xác định được phần sở hữu của các chủ sở hữu chung


Theo bản án có hiệu lực pháp luật của Tòa án, bà A phải trả ông B 250.000.000 đồng. Bà A không có tài sản riêng, chỉ có tài sản chung với chồng là quyền sử dụng đất và nhà trên đất (đất đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử đụng đất). Tuy nhiên, chồng bà A đã mất, không để lại di chúc, tài sản chưa được phân chia. Hiện nay, bà A và các đồng thừa kế là các con của bà A đang sử dụng nhà, đất và không yêu cầu chia thừa kế. Mặt khác, nhà, đất này bà A cùng các con đã thế chấp ở Ngân hàng để vay tiền trước khi có bản án trên.
Hỏi:
Theo quy định pháp luật, để xử lý tài sản chung của bà A, Chấp hành viên phải thực hiện trình tự thủ tục gì để thi hành án cho ông B?

Gửi bởi: Nguyễn Huyền

Trả lời có tính chất tham khảo

Trường hợp bạn hỏi chúng tôi xin trả lời như sau:
Để thi hành án đối với bà A, Chấp hành viên cần thực hiện các trình tự thủ tục thi hành án sau:
Thứ nhất, xác định, phân chia, xử lý tài sản chung để thi hành án theo quy định tại khoản 31 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2015 như sau:
1. Trường hợp chưa xác định được phần quyền sở hữu tài sản, phần quyền sử dụng đất của người phải thi hành án trong khối tài sản chung để thi hành án thì Chấp hành viên phải thông báo cho người phải thi hành án và những người có quyền sở hữu chung đối với tài sản, quyền sử dụng đất biết để họ tự thỏa thuận phân chia tài sản chung hoặc yêu cầu Tòa án giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự.
Hết thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo mà các bên không có thỏa thuận hoặc thỏa thuận vi phạm quy định tại Điều 6 của Luật này hoặc thỏa thuận không được và không yêu cầu Tòa án giải quyết thì Chấp hành viên thông báo cho người được thi hành án có quyền yêu cầu Tòa án xác định phần quyền sở hữu tài sản, phần quyền sử dụng đất của người phải thi hành án trong khối tài sản chung theo thủ tục tố tụng dân sự.
Hết thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo mà người được thi hành án không yêu cầu Tòa án giải quyết thì Chấp hành viên yêu cầu Tòa án xác định phần quyền sở hữu tài sản, phần quyền sử dụng đất của người phải thi hành án trong khối tài sản chung theo thủ tục tố tụng dân sự.
Chấp hành viên xử lý tài sản theo quyết định của Tòa án.
2. Tài sản kê biên thuộc sở hữu chung đã xác định được phần sở hữu của các chủ sở hữu chung được xử lý như sau:
a) Đối với tài sản chung có thể chia được thì Chấp hành viên áp dụng biện pháp cưỡng chế phần tài sản tương ứng với phần sở hữu của người phải thi hành án;
b) Đối với tài sản chung không thể chia được hoặc nếu việc phân chia làm giảm đáng kể giá trị của tài sản thì Chấp hành viên có thể áp dụng biện pháp cưỡng chế đối với toàn bộ tài sản và thanh toán cho chủ sở hữu chung còn lại giá trị phần tài sản thuộc quyền sở hữu của họ.
3. Chủ sở hữu chung được quyền ưu tiên mua phần tài sản của người phải thi hành án trong khối tài sản thuộc sở hữu chung.
Trước khi bán tài sản lần đầu đối với tài sản thuộc sở hữu chung, Chấp hành viên thông báo và định thời hạn cho chủ sở hữu chung mua phần tài sản của người phải thi hành án theo giá đã định trong thời hạn 03 tháng đối với bất động sản, 01 tháng đối với động sản; đối với những lần bán tài sản tiếp theo thì thời hạn là 15 ngày, kể từ ngày được thông báo hợp lệ.
Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày hết thời hạn ưu tiên mà chủ sở hữu chung không mua tài sản thì tài sản được bán theo quy định tại Điều 101 của Luật này.
Thứ hai, thực hiện việc kê biên, xử lý tài sản của hộ gia đình đang thế chấp để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ thi hành án của thành viên hộ gia đình theo hướng dẫn tại Công văn số 1103/TCTHADS-NV1 ngày 30/3/2017 của Tổng cục Thi hành án dân sự, cụ thể:
Do tài sản của người phải thi hành án trong khối tài sản chung với các thành viên hộ gia đình đang thế chấp hợp pháp cho Ngân hàng nên cơ quan Thi hành án dân sự cần làm việc với Ngân hàng để kê biên tài sản khi có đủ điều kiện quy định tại Điều 90 Luật thi hành án dân sự mà không cần hướng dẫn phân chia tài sản chung của hộ gia đình. Khi thanh toán tiền thu được từ việc xử lý tài sản thì ưu tiên thanh toán cho Ngân hàng nhận thế chấp theo quy định tại khoản 3 Điều 47 Luật thi hành án dân sự. Đối với số tiền còn lại thì thực hiện theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 24 Nghị định 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự (để trả cho các thành viên trong Hộ gia đình), sau đó, thu tiền của người phải thi hành án để thi hành án.  
Trường hợp Ngân hàng nhận thế chấp tiến hành xử lý để thu hồi nợ vay theo quy định của pháp luật về xử lý tài sản bảo đảm thì Chấp hành viên không thực hiện việc kê biên, xử lý đối với tài sản đó nhưng phải có văn bản yêu cầu Ngân hàng thông báo ngay kết quả xử lý tài sản cho cơ quan Thi hành án dân sự, giữ số tiền còn lại (nếu có) để cơ quan Thi hành án dân sự giải quyết theo quy định của pháp luật.
Như vậy, theo văn bản hướng dẫn của Tổng cục Thi hành án dân sự nêu trên thì tùy thuộc vào kết quả làm việc với Ngân hàng, Chấp hành viên sẽ thực hiện việc kê biên tài sản hay không kê biên tài sản của hộ gia đình đang thế chấp để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ thi hành án của thành viên hộ gia đình.

 

Trả lời bởi: ;#Nguyễn Thị Thu Hằng - Tổng cục Thi hành án dân sự;#