Lên đầu trang

Có được thi hành án tài sản của công ty để trả nợ cho cá nhân chủ sở hữu không?

Tôi là chủ sở hữu và người đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH một thành viên Thương mại H. Tôi với tư cách cá nhân vay của bà Hương một khoản tiền. Tôi bị bà Hương khởi kiện đòi nợ. Sau khi có Quyết định của Tòa án, bà Hương đã yêu cầu Chi cục Thi hành án thành phố D thi hành án. Do tôi không còn tài sản cá nhân, tôi chỉ còn một lô đất đứng tên Công ty TNHH một thành viên Thương mại H nên Chấp hành viên tổ chức thi hành vụ việc đã  áp dụng biện pháp ngăn chặn lô đất của Công ty để đảm bảo thi hành án. Tôi đã khiếu nại Chấp hành viên áp dụng biện pháp ngăn chặn đối với tài sản của Công ty TNHH một thành viên Thương mại H. Giải quyết khiếu nại của tôi, Cục Thi hành án dân sự tỉnh B xác định: Công ty TNHH một thành viên Thương mại H do tôi làm chủ sở hữu thì toàn bộ tài sản của Công ty là của tôi và tài sản của Công ty là lô đất đứng tên công ty cũng đồng thời là tài sản của cá nhân tôi. Do đó, Chấp hành viên áp dụng các biện pháp thi hành án đối với tài sản này của Công ty TNHH một thành viên Thương mại H để tránh việc tôi tẩu tán tài sản và đảm bảo thi hành án cho bà Hương là đúng, không chấp nhận khiếu nại của tôi.
Hỏi:
1. Chấp hành viên Chi cục Thi hành án thành phố D áp dụng biện pháp ngăn chặn đối với tài sản của Công ty TNHH một thành viên Thương mại H để thi hành cho cá nhân tôi có đúng không?
2. Cục Thi hành án dân sự tỉnh B xác định: Công ty TNHH một thành viên Thương mại H do tôi làm chủ sở hữu thì toàn bộ tài sản của Công ty là của tôi và tài sản của Công ty là lô đất đứng tên Công ty cũng đồng thời là tài sản của cá nhân tôi; giải quyết khiếu nại không chấp nhận khiếu nại của tôi có đúng không? Nếu việc thi hành án của Chấp hành viên là sai và Cục Thi hành án dân sự tỉnh B nhận định và giải quyết khiếu nại sai thì tôi cần phải làm gì để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Công ty tôi?

Gửi bởi: Đoàn Thị Hoa

Trả lời có tính chất tham khảo

Trường hợp bạn hỏi chúng tôi không có hồ sơ thi hành án, không rõ nội dung vụ việc nên chúng tôi trả lời bạn như sau:
1. Về việc tổ chức thi hành án: 
- Theo Điều 73, Điều 74 và Điều 75 Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định: Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là doanh nghiệp do một tổ chức hoặc một cá nhân làm chủ sở hữu.
Chủ sở hữu chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với các nghĩa vụ tài chính của công ty, thiệt hại xảy ra do không góp, không góp đủ, không góp đúng hạn vốn điều lệ. Chủ sở hữu có toàn quyền quyết định đầu tư, kinh doanh và quản trị nội bộ doanh nghiệp, trừ trường hợp Điều lệ công ty có quy định khác; Chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ vốn điều lệ của công ty cho tổ chức, cá nhân khác; Quyết định việc sử dụng lợi nhuận sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ thuế và các nghĩa vụ tài chính khác của công ty; Quyết định tổ chức lại, giải thể và yêu cầu phá sản công ty; Thu hồi toàn bộ giá trị tài sản của công ty sau khi công ty hoàn thành giải thể hoặc phá sản; Các quyền khác theo quy định của Luật này và Điều lệ công ty. Theo nội dung bạn cung cấp thì bạn là Chủ sở hữu Công ty TNHH một thành viên Thương mại Hoàng Hảo nên có quyền cao nhất điều hành mọi hoạt động của Công ty.
Bạn có nghĩa vụ phải trả nợ cho bà Hương theo quyết định của Tòa án nhưng bạn không có tài sản cá nhân mà chỉ còn tài sản quyền sử dụng đất đứng tên Công ty TNHH một thành viên Thương mại H. Theo quy định tại khoản 31 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2015 quy định Chấp hành viên có quyền xác định, phân chia, xử lý tài sản chung để thi hành án như sau:
"1. Trường hợp chưa xác định được phần quyền sở hữu tài sản, phần quyền sử dụng đất của người phải thi hành án trong khối tài sản chung để thi hành án thì Chấp hành viên phải thông báo cho người phải thi hành án và những người có quyền sở hữu chung đối với tài sản, quyền sử dụng đất biết để họ tự thỏa thuận phân chia tài sản chung hoặc yêu cầu Tòa án giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự.
Hết thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo mà các bên không có thỏa thuận hoặc thỏa thuận vi phạm quy định tại Điều 6 của Luật này hoặc thỏa thuận không được và không yêu cầu Tòa án giải quyết thì Chấp hành viên thông báo cho người được thi hành án có quyền yêu cầu Tòa án xác định phần quyền sở hữu tài sản, phần quyền sử dụng đất của người phải thi hành án trong khối tài sản chung theo thủ tục tố tụng dân sự.
Hết thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo mà người được thi hành án không yêu cầu Tòa án giải quyết thì Chấp hành viên yêu cầu Tòa án xác định phần quyền sở hữu tài sản, phần quyền sử dụng đất của người phải thi hành án trong khối tài sản chung theo thủ tục tố tụng dân sự.
Chấp hành viên xử lý tài sản theo quyết định của Tòa án.
2. Tài sản kê biên thuộc sở hữu chung đã xác định được phần sở hữu của các chủ sở hữu chung được xử lý như sau:
a) Đối với tài sản chung có thể chia được thì Chấp hành viên áp dụng biện pháp cưỡng chế phần tài sản tương ứng với phần sở hữu của người phải thi hành án;
b) Đối với tài sản chung không thể chia được hoặc nếu việc phân chia làm giảm đáng kể giá trị của tài sản thì Chấp hành viên có thể áp dụng biện pháp cưỡng chế đối với toàn bộ tài sản và thanh toán cho chủ sở hữu chung còn lại giá trị phần tài sản thuộc quyền sở hữu của họ".
Do đó, để đảm bảo thi hành án, ngăn chặn việc tẩu tán, hủy hoại tài sản, trốn tránh việc thi hành án, Chấp hành viên có quyền áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án theo khoản 1 Điều 66 Luật thi hành án dân sự.
2. Về việc giải quyết khiếu nại của Cục Thi hành án dân sự tỉnh B:   
Cục Thi hành án dân sự tỉnh B xác định: Công ty TNHH một thành viên Thương mại H do bạn làm chủ sở hữu thì toàn bộ tài sản của Công ty là của bạn và tài sản của Công ty là lô đất đứng tên Công ty cũng đồng thời là tài sản của cá nhân bạn; giải quyết khiếu nại không chấp nhận khiếu nại của bạn là có căn cứ. Bạn có quyền tự thỏa thuận hoặc yêu cầu Tòa án giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự để phân chia tài sản chung với người khác (nếu có).
Theo quy định điểm b khoản 4 Điều 142 Luật thi hành án dân sự, khoản 4 Điều 38 Nghị định 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự quy định: Trường hợp cần thiết, Bộ trưởng Bộ Tư pháp có quyền xem xét lại quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực thi hành nếu Quyết định, hành vi bị khiếu nại là trái pháp luật nhưng quyết định giải quyết khiếu nại cho rằng quyết định, hành vi đó là đúng pháp luật; Việc giải quyết khiếu nại đã vi phạm quy định của pháp luật về thủ tục giải quyết khiếu nại về thi hành án; Có tình tiết mới làm thay đổi cơ bản kết quả giải quyết khiếu nại.
Tuy nhiên, vụ việc này Chấp hành viên áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án là đúng quy định. Cục Thi hành án dân sự tỉnh B không chấp nhận khiếu nại của bạn là có căn cứ. Do đó, vụ việc của bạn không thuộc trường hợp được Bộ trưởng Bộ Tư pháp xem xét lại theo quy định nêu trên.
 

Trả lời bởi: ;#Nguyễn Thị Thu Hằng - Tổng cục Thi hành án dân sự;#