Sign In

 

 

HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN

TỈNH HÀ TĨNH

 

 
 

Số: 94/2008/NQ-HĐND

 

 

 

 

   CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

 
 
 

 


                Hà Tĩnh, ngày 10 tháng 12 năm 2008

NGHỊ QUYẾT

Về việc thông qua quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng

tỉnh Hà Tĩnh, giai đoạn 2008 – 2020

 

 
 

 

 

 

 

HỘI ÐỒNG NHÂN DÂN TỈNH

KHOÁ XV - KỲ HỌP THỨ 14

           

          Căn cứ Luật Tổ chức HÐND và UBND đã được Quốc hội thông qua ngày  26 tháng 11 năm 2003;

Căn cứ Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004;

Căn cứ Nghị định số 23/2006/NĐ-CP, ngày 03/3/2006 của Chính phủ về việc thi hành Luật Bảo vệ và Phát triển rừng;

Căn cứ Thông tư số 05/2008/TT-BNN, ngày 14/01/2008 của Bộ Nông nghiệp và  PTNT hướng dẫn lập quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng;

Sau khi xem xét Tờ trình số 315/TTr-UBND, ngày 25 tháng 11 năm 2008 của Uỷ ban nhân dân tỉnh về Quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Hà Tĩnh giai đoạn 2008 – 2020, Báo cáo thẩm tra của Ban Pháp chế HĐND tỉnh và ý kiến của đại biểu HĐND tỉnh,

 

QUYẾT NGHỊ:

 

Ðiều 1: Thông qua Quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Hà Tĩnh, giai đoạn 2008 - 2020 như  Uỷ ban nhân dân tỉnh đã trình với nội dung chủ yếu sau:

I. Hiện trạng rừng và sử dụng đất:

          1. Diện tích đất lâm nghiệp và các loại đất loại rừng:

          Tổng diện tích đất lâm nghiệp 364.655,5 ha, trong đó:

- Đất có rừng: 302.567,9 ha, gồm: rừng tự nhiên: 209.887,5 ha, rừng trồng: 92.680,4 ha.

- Đất chưa có rừng: 62.087,6 ha.

         

          2. Trữ lượng rừng:

          Tổng trữ lượng rừng toàn tỉnh là 26.040.100 m3 gỗ và 32.443 ngàn cây tre, nứa, trong đó: rừng tự nhiên: 23.494.420 m3 gỗ và 31.857 ngàn cây tre, nứa; rừng trồng: 2.545.680 m3 gỗ .

3. Hiện trạng quy hoạch 3 loại rừng:  Rừng đặc dụng: 74.597,9 ha; rừng phòng hộ: 118.310,2 ha; rừng sản xuất: 171.747,4 ha.

          II. Nội dung quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng

    1. Mục tiêu, nhiệm vụ

  - Mục tiêu:  Phấn đấu đưa độ che phủ của rừng đạt 53% vào năm 2010 và 56% vào năm 2020; đưa sản lượng gỗ đạt 264.321m­­­3 vào năm 2010 và 652.651m3 vào năm 2020; tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2008-2010 đạt 9%, giai đoạn 2011-2020 đạt 12%; giá trị xuất khẩu đạt 25 triệu USD vào năm 2010 và 60-70 triệu USD vào năm 2020; giải quyết việc làm cho 40.000 lao động vào năm 2010 và 70.000 lao động vào năm 2020.

- Nhiệm vụ: Quản lý, bảo vệ và phát triển ổn định lâm phận của tỉnh với quy mô 357.259 ha vào năm 2020 (giảm 7.396 ha do chuyển sang mục đích khác), trong đó 74.598 ha rừng đặc dụng, 118.058 ha rừng phòng hộ và 164.603 ha rừng sản xuất. Tổ chức quản lý, khai thác, sử dụng có hiệu quả tiềm năng rừng, đất rừng, đặc biệt là rừng sản xuất cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế, gắn với bảo vệ môi trường sinh thái.

  1. Quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng

2.1. Bảo vệ rừng

Phát huy vai trò trách nhiệm quản lý nhà nước về bảo vệ rừng của các cấp chính quyền. Tăng cường phối hợp giữa kiểm lâm với lực lượng bảo vệ của các chủ rừng và chính quyền xã. Đẩy mạnh phối hợp liên ngành trong công tác kiểm tra, xử lý vi phạm Luật bảo vệ và phát triển rừng. Tập trung bảo vệ tốt diện tích rừng hiện có.

2.2. Phát triển rừng

- Khoanh nuôi phục hồi 9.234 ha rừng đặc dụng và phòng hộ.

- Trồng mới và trồng lại rừng sau khai thác 110.869 ha (trồng mới 32.421 ha, trồng lại sau khai thác 78.448 ha), trong đó : Rừng đặc dụng 229 ha ; rừng phòng hộ 6.712 ha ; rừng sản xuất 103.927 ha (trồng mới 25.931 ha và trồng lại sau khai thác 77.996 ha).

- Trồng rừng nâng cấp cho rừng trồng phòng hộ và đặc dụng 5.487 ha

          - Ngoài diện trồng rừng tập trung nói trên, bình quân mỗi năm trên địa bàn toàn tỉnh trồng thêm 5-6 triệu cây phân tán.

- Cải tạo rừng tự nhiên nghèo kiệt, rừng phục hồi thiếu tái sinh và mật độ cây tái sinh thấp  thuộc đối tượng rừng sản xuất: 10.500 ha.

 

- Làm giàu rừng sản xuất sau khai thác 5.810 ha .

2.3. Khai thác

- Khai thác gỗ rừng tự nhiên toàn kỳ 5.810 ha, bình quân mỗi năm 447 ha,  sản lượng 116.895 m3, bình quân mỗi năm khoảng 8 ngàn m3; từng bước giảm khai thác rừng tự nhiên.

- Khai thác rừng trồng tập trung toàn kỳ là 83.417 ha, sản lượng 4.902.331 m3, bình quân 6.417 ha/năm, sản lượng 377.102 m3/năm.

- Khai thác rừng trồng phân tán khoảng 2 triệu cây/năm, tương đương 1.300 ha, sản lượng 65.000 m3.

- Khai thác Lâm sản ngoài gỗ: song, mây 49.000 tấn, bình quân 3.769 tấn/năm; nhựa thông 22.000 tấn, bình quân 1.692 tấn/năm; mủ cao su 72.000 tấn, bình quân 5.538 tấn/năm; tre nứa 10 triệu cây/năm.

Ưu tiên sử dụng gỗ và các lâm sản từ gỗ khai thác được cho các cơ sở chế biến trong tỉnh.

2.4. Chế biến lâm sản

Bình quân mỗi năm khoảng 8 ngàn m3 gỗ rừng tự nhiên và 442.102 m3 gỗ rừng trồng. Định hướng quy hoạch các nhà máy chế biến như­ sau:

+ Chế biến gỗ dăm (keo, bạch đàn, phi lao): ngoài các nhà máy băm dăm xuất khẩu hiện có, không đầu tư xây dựng thêm nhà máy băm dăm ở địa bàn Hà Tĩnh.

          + Chế biến đồ mộc xuất khẩu: đầu tư mở rộng các nhà máy hiện có.

+ Bố trí đầu tư nhà máy sản xuất ván sàn gỗ cao cấp MDF tại khu công nghiệp Vũng Áng công suất 50.000m3/năm; nhà máy ván ép, ván ghép thanh tại Hương Sơn, công suất 7.000m3/năm; nhà máy ván ép, ván ghép thanh tại Kỳ Anh, công suất 7.000m3/năm; nhà máy chế biến đồ gỗ nội thất, đồ gỗ văn phòng từ nguyên liệu nhập khẩu và nguyên liệu rừng trồng tại khu công nghiệp Vũng Áng công suất 10.000m3/năm; nhà máy ván ép, ván ghép thanh tại Nghi Xuân, công suất 7.000m3/năm.

3. Tổng hợp vốn đầu tư: 

            - Tổng nhu cầu vốn đầu tư cho toàn kỳ dự kiến  2.287 tỷ đồng, trong đó: vốn lâm sinh 1.795 tỷ đồng; vốn thực hiện các chương trình ưu tiên 492 tỷ đồng.

- Nguồn vốn: vốn ngân sách 510 tỷ đồng; vốn doanh nghiệp 1.268 tỷ đồng; vốn của cá nhân, hộ gia đình 509 tỷ đồng.

III.  Một số giải pháp chủ yếu

- Ổn định quy mô 3 loại rừng sau khi điều chỉnh quy hoạch, tổ chức đóng mốc ranh giới ngoài thực địa, nhằm phân định rõ các loại rừng, thuận lợi cho công tác quản lý, chỉ đạo và thực hiện quy chế quản lý 3 loại rừng.

 

 

- Tăng cường năng lực, bổ sung cán bộ cho phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Hạt Kiểm lâm đảm bảo đủ điều kiện giúp cho UBND huyện quản lý nhà nước chuyên ngành về lâm nghiệp. Những huyện có > 30.000 ha rừng và đất lâm nghiệp cần bố trí 2 định biên, đối với huyện  1.000-30.000 ha, ít nhất bố trí một định biên chuyên trách lâm nghiệp thuộc Phòng Nông nghiệp và PTNT.

- Những xã có > 500 ha rừng và đất lâm nghiệp thì bố trí 1 định biên lâm nghiệp để giúp UBND xã thực hiện chức năng quản lý nhà nước về lâm nghiệp.

- Tiếp tục đổi mới, sắp xếp các doanh nghiệp quốc doanh theo tinh thần Nghị định 200/2004/NÐ-CP của Chính phủ .

- Củng cố tổ chức bộ máy và hoạt động của các Ban quản lý rừng phòng hộ, đặc dụng hiện có. Sắp xếp, đổi mới tổ chức, xác định quy mô quản lý phù hợp, chỉ để lại phần diện tích đất và rừng sản xuất đan xen vừa đủ với năng lực và chức năng nhiệm vụ. Diện tích rừng sản xuất tập trung nếu >2.000 ha thì đấu thầu cho thuê đất, thuê rừng.

+ Đối với rừng phòng hộ, đặc dụng:  

Tách diện tích rừng phòng hộ tập trung ở  Công ty Lâm nghiệp và dịch vụ Chúc A, phần lưu vực Rào Tre và ở Công ty Lâm nghiệp và dịch vụ Hương Sơn  để thành lập mới 2 Ban quản lý rừng phòng hộ. Rà soát lại diện tích rừng phòng hộ trên địa bàn huyện Kỳ Anh giữa 3 đơn vị: Công ty cổ phần Nông lâm sản Hà Tĩnh, Ban quản lý rừng phòng hộ Nam Hà Tĩnh và phần diện tích rừng sản xuất và phòng hộ thuộc huyện Kỳ Anh của Ban quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Kẽ Gỗ để thành lập một Ban quản lý rừng phòng hộ mới hoặc nhập vào Ban quản lý rừng phòng hộ Nam Hà Tĩnh và cắt chuyển diện tích rừng phòng hộ không tập trung về  UBND các xã để giao cho hộ gia đình.

+ Đối với rừng sản xuất:

Xem xét, điều chỉnh quy mô diện tích rừng sản xuất hợp lý cho các đơn vị như. Ban quản lý rừng phòng hộ Nam Hà Tĩnh 11.632 ha, Ban quản lý rừng phòng hộ Ngàn Sâu 9.600 ha, Khu bảo tồn thiên nhiên Kẻ Gỗ 5.402 ha .... Tổ chức đấu giá để cho các thành phần kinh tế thuê, nhằm thu hút mọi nguồn lực đầu tư phát triển sản xuất.

- Ðẩy mạnh việc giao đất, khoán rừng cho các thành phần kinh tế nhằm phát huy lợi thế về đất đai và lao động của tỉnh. Từng bước nghiên cứu áp dụng hình thức cho thuê rừng, đấu giá quyền sử dụng đất, rừng, thuê cảnh quan rừng để sản xuất kinh doanh lâm sản và kinh doanh dịch vụ du lịch. Từng bước tiến tới định giá rừng để giao vốn cho các doanh nghiệp quản lý, chịu trách nhiệm bảo toàn và phát triển vốn.

- Tập trung giải quyết dứt điểm các tồn tại của ngành lâm nghiệp do lịch sử để lại, trong đó đặc biệt là các tranh chấp về đất đai, chế độ hưởng lợi, các chồng chéo trong giao đất lâm nghiệp.

 

- Đối với diện tích rừng và đất lâm nghiệp hiện đang do UBND các xã quản lý cần khẩn trương xây dựng phương án giao rừng cho các hộ gia đình, trình UBND huyện phê duyệt và tổ chức thực hiện hoàn thành trước năm 2010. Việc giao đất cho hộ gia đình cần có quy định cụ thể nhằm lựa chọn đối tượng có khả năng đầu tư phát triển sản xuất, tránh tình trạng giao manh mún tràn lan hoặc lợi dụng việc giao đất để đầu cơ trục lợi cá nhân, đồng thời quan tâm đảm bảo cho các hộ gia đình sống chủ yếu bằng nghề rừng có đất để sản xuất.

- Hàng năm tổ chức đánh giá tình hình sử dụng đất lâm nghiệp, đặc biệt đối với diện tích được quy hoạch cho sản xuất, nếu sử dụng không hiệu quả, không đúng mục đích hoặc sử dụng khi chưa được cơ quan có thẩm quyền cho phép thì thu hồi để giao cho đối tượng khác sử dụng.

- Hoàn thiện hồ sơ giao đất, giao rừng như làm rõ diện tích, trạng thái, giá trị từng loại rừng khi giao, khoán để làm căn cứ xác định quyền lợi, nghĩa vụ của người nhận đất, khoán rừng.

- Ưu tiên đầu tư nguồn ngân sách cho các chương trình dự án quản lý, bảo vệ và phát triển rừng đặc dụng, rừng phòng hộ khi dự án đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

- Sớm xây dựng quỹ bảo vệ phát triển rừng trên địa bàn để hỗ trợ vào nguồn đầu tư của Nhà nước trong công tác quản lý, bảo vệ và phát triển các khu rừng đặc dụng, rừng phòng hộ trọng điểm. Khi chưa hình thành quỹ bảo vệ phát triển rừng thì sử dụng nguồn thu từ thuế tài nguyên, tiền bán lâm sản tịch thu...để đầu tư cho công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn.

- Chủ động kêu gọi các dự án liên doanh, liên kết đầu tư trồng rừng gắn với chế biến lâm sản, các dự án CDM (dự án trồng, bảo vệ rừng sạch); kêu gọi và huy động nguồn lực từ nhiều thành phần kinh tế trong và ngoài nước vào công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng vì mục đích kinh tế- xã hội và môi trường sinh thái.

- Quan tâm đào tạo và xây dựng đội ngũ cán bộ lâm nghiệp cấp huyện, cấp xã. Đầu tư thích đáng cho công tác đào tạo và đào tạo lại cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật, đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ khoa học chuyên ngành.

- Tăng cường công tác khuyến lâm, xây dựng mô hình trình diễn về Lâm nghiệp trên các lĩnh vực sản xuất cây giống, trồng rừng và bảo vệ rừng ...

IV. Danh mục các chương trình, dự án ưu tiên:

- Các chương trình gồm: chương trình sắp xếp đổi mới, phát triển doanh nghiệp và củng cố các Ban quản lý rừng phòng hộ, đặc dụng; Chương trình quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng cấp vi mô; Chương trình đóng mốc ranh giới 3 loại rừng; Chương trình giao, khoán, cho thuê rừng và đất lâm nghiệp; Chương trình phát triển giống cây lâm nghiệp; Chương trình đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng lâm nghiệp; Chương trình bảo vệ rừng, bảo tồn đa dạng sinh học và dịch vụ môi trường; Chương trình phát triển và quản lý rừng bền vững; Chương trình khuyến lâm; Chương trình ứng dụng công nghệ chế biến gỗ và lâm sản; Chương trình điều tra, đánh giá, theo dõi diễn biến tài nguyên rừng; Chương trình xúc tiến thương mại; Chương trình đào tạo, phát triển nguồn nhân lực

- Các dự án gồm: cao su tiểu điền; trồng rừng bằng các loài cây bản địa có giá tri kinh tế cao; điều chỉnh, sắp xếp hệ thống trạm kiểm lâm địa bàn, kiểm soát lâm sản và trạm bảo vệ rừng; nâng cao năng lực phòng cháy, chữa cháy rừng; trồng, bảo vệ rừng sạch (CDM ); chế biến tinh gỗ và lâm sản phi gỗ có giá trị xuất khẩu cao.

 Ðiều 2: Giao Uỷ ban nhân dân tỉnh ra quyết định phê duyệt Quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Hà Tĩnh giai đoạn 2008 – 2020 và tổ chức thực hiện.

Ðiều 3: Giao Thường trực HĐND, các ban và các đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh  giám sát việc thực hiện Quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng.

Trong quá trình tổ chức thực hiện, nếu có sự thay đổi, điều chỉnh, bổ sung quy hoạch, UBND tỉnh thống nhất với Thường trực HĐND và các ban HĐND tỉnh, báo cáo HĐND tỉnh tại kỳ họp gần nhất.

Nghị quyết này đã được Hội đồng nhân dân tỉnh khoá XV, kỳ họp thứ 14 thông qua./.

 

Nơi nhận:

­- Văn phòng Quốc hội;          

- Văn phòng Chủ tịch nước; 

- Văn phòng Chính phủ;       

- Văn phòng Bộ Tư  lệnh QK4;

- Cục kiểm tra văn bản -Bộ Tư pháp;

- Thường trực Tỉnh uỷ, HĐND, UBND, UBMTTQ tỉnh;

- Các sở, ban, ngành, đoàn thể cấp tỉnh;

- VP Tỉnh uỷ, VP UBND tỉnh;

- TT HĐND, UBND các huyện, thị xã, thành phố;

- Đại biểu Quốc hội Đoàn Hà Tĩnh;

- Đại biểu HĐND tỉnh;

- Lãnh đạo và chuyên viên VP Đoàn ĐBQH-HĐND tỉnh;

- Phòng Công báo - VP UBND tỉnh;

- Trang thông tin điện tử Hà Tĩnh;

- Lưu: VT.

CHỦ TỊCH

 

 

 

 

 

 

              Nguyễn Thanh Bình

 

 

 

 

HĐND tỉnh Hà Tĩnh

Chủ tịch

(Đã ký)

 

Nguyễn Thanh Bình