CHỈ THỊ
Về việc triển khai các biện pháp cấp bách bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm trên địa bàn tỉnh
_________________________________________
Thời gian qua, với sự nỗ lực của các cấp, các ngành công tác bảo đảm chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm (VSATTP) trên địa bàn tỉnh đã thu được một số kết quả đáng khích lệ: công tác thanh, kiểm tra VSATTP đã được tăng cường triển khai và đạt hiệu quả nhất định; công tác tuyên truyền đã được chú trọng, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức, ý thức trách nhiệm của lãnh đạo các cấp, các ngành, các tổ chức xã hội và người tiêu dùng, nâng cao ý thức tự giác chấp hành các quy định của pháp luật về VSATTP, góp phần tích cực vào sự nghiệp chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ cho nhân dân và sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh nhà.
Tuy nhiên, công tác bảo đảm chất lượng VSATTP trên địa bàn tỉnh vẫn còn nhiều vấn đề đáng quan tâm: chưa kiểm soát và ngăn chặn triệt để tình trạng rau, quả bị ô nhiêm hóa chất độc hại; thịt gia súc, gia cầm, thuỷ sản dư lượng kháng sinh, hóc môn; việc sử dụng các hoá chất, phụ gia không đúng quy định trong chế biến, bảo quản thực phẩm; việc kinh doanh thực phẩm và dịch vụ ăn uống tại một số nơi chưa được quản lý tốt; tình trạng ngộ độc thực phẩm vẫn còn xảy ra, ảnh hưởng đến sức khoẻ của nhân dân và sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh; thực phẩm giả, kém chất lượng, thực phẩm nhập lậu chưa được kiểm soát chặt chẽ; các vi phạm pháp luật về VSSATTP chưa được phát hiện và xử lý kịp thời.
Nguyên nhân của tình trạng trên là do nhận thức và ý thức trách nhiệm của một số cơ quan, chính quyền, người sản xuất kinh doanh và tiêu dùng chưa cao; các cơ sở trồng trọt, chăn nuôi và chế biến thực phẩm vẫn còn ở trình độ thấp; hệ thống tổ chức về VSATTP chưa hoàn chỉnh, năng lực quản lý còn hạn chế; một số nơi chính quyền chưa quan tâm đúng mức đến công tác bảo đảm VSATTP.
Để khắc phục tình trạng trên, nhằm thiết lập trật tự kỷ cương trong việc kiểm soát VSATTP trên địa bàn tỉnh theo tinh thần chỉ đạo của Thủ tướng Chinh phủ tại Chỉ thị số 06/2007/CT-TTg ngày 28/3/2007, Ủy ban nhân dân tỉnh phủ yêu cầu các cấp, các ngành triển khai thực hiện tốt một số nội dung công việc sau:
1. Tiếp tục tổ chức thực hiện tốt Kế hoạch hành động bảo đảm chất lượng VSATTP trên địa bàn tỉnh Kon Tum đến năm 2010 (ban hành kèm theo Quyết định số 22/2006/QĐ-UBND ngày 08/6/2006 của Uỷ ban nhân dân tỉnh).
2. Chú trọng các hoạt động:
2.1. Tăng cường các biện pháp giáo dục truyền thông về VSATTP, nâng cao nhận thức và hành động của chính quyền các cấp, người sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng thực phẩm. Đặc biệt tập tung tuyên truyền, giáo dục phổ biến những kiến thức khoa học trong trồng trọt, chăn nuôi, bảo quản và chế biến thực phẩm an toàn nhằm thay đổi những phong tục tập quán lạc hậu của nhân dân.
2.2. Rà soát và kiện toàn Ban chỉ đạo liên ngành VSATTP các cấp; phân công trách nhiệm cụ thể cho từng cá nhân, đơn vị; xây dựng và thực hiện tốt cơ chế phối hợp liên ngành; thực hiện đúng các quy định của pháp luật về phân cấp quản lý nhà nước về VSATTP; kiện toàn và nâng cao năng lực của hệ thống thanh tra và kiểm nghiệm VSATTP các cấp.
2.3. Tổ chức thẩm định chặt chẽ, đầy đủ, nghiêm túc theo quy định của Bộ Y tế về tiêu chuẩn sản phấm trước khi cấp giấy chứng nhận tiêu chuẩn sản phẩm, về điều kiện VSATTP trước khi cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện VSATTP cho các cơ sở sản xuất, chế biến thực phẩm. Kiên quyết không để các sản phẩm không đạt tiêu chuân sản phẩm lưu thông trên thị trường, các cơ sở không đủ điều kiện VSATTP tiếp tục sản xuất, chế biến và kinh doanh thực phẩm.
2.4. Thực hiện nghiêm túc các quy định của pháp luật trong sản xuất, kinh doanh, chế biến thực phẩm, đặc biệt là các quy định về VSATTP trong sản xuất rau, quả, chăn nuôi và giết mổ gia súc, gia cầm, thuỷ sản; kiểm soát chặt chẽ rau, quả, thịt, thuỷ sản nhập khấu qua biên giới, tại các vùng sản xuất nguyên liệu, các nơi bán thực phấm, nguyên liệu chế biến thực phẩm; kiểm soát chặt chẽ, thường xuyên việc chế biến và sử dụng thực phẩm tại khu công nghiệp và khu chế xuất, tại các trường học, chợ, nhà hàng, khách sạn, bếp ăn tập thể, dịch vụ thức ăn đường phố...
2.5. Tăng cường các biện pháp kiểm tra, thanh tra, xử lý nghiêm các vi phạm pháp luật; khắc phục ngay tình trạng buông lỏng quản lý, quy định rõ trách nhiệm của người đứng đầu các đơn vị khi để xảy ra ngộ độc thực phẩm tại đơn vị mình, trường hợp để xảy ra hậu quả nghiêm trọng, tái diễn do buông lỏng quản lý, không tuân thủ pháp luật, thì phải xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật.
2.6. Công bố công khai các thông tin về sản phẩm và cơ sở sản xuất kinh doanh đã bị xử lý vi phạm tại địa phương. Việc công bố thông tin phải thực hiện theo “Quy chế phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí” ban hành kèm theo Quyết định số 77/2007/QĐ-TTg ngày 28/5/2007 của Thủ tướng Chính phủ.
2.7. Tăng đầu tư về ngân sách, nhân lực và trang thiết bị nhằm đáp ứng yêu cầu cơ bản về kiểm soát VSATTP.
Để thực hiện tốt các hoạt động trên, Ủy ban nhân dân tỉnh yêu cầu:
1. Sở Y tế:
1.1. Chủ trì, phối họp với các thành viên trong Ban chỉ đạo liên ngành về VSATTP tăng cường công tác kiểm tra, đôn đốc các sở, ban, ngành, địa phương thực hiện có hiệu quả công tác bảo đảm VSATTP.
1.2. Chủ trì, phối hợp với Sở Văn hoá - Thông tin, các sở, ngành, đơn vị liên quan xây dựng kế hoạch triển khai công tác thông tin, giáo dục truyền thông về VSATTP phù hợp với từng đối tượng; quản lý chặt chẽ nội dung thông tin, quảng cáo về VSATTP.
1.37 Chỉ đạo thực hiện việc cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện VSATTP theo quy định của pháp luật cho tất cả các cơ sở sản xuất, kinh doanh; giám sát, kiểm tra, chấn chỉnh việc thực hiện cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện VSATTP tại các địa phương, kiên quyết không để các cơ sở không đủ điều kiện VSATTP sản xuất, kinh doanh thực phẩm.
1.4. Phối hợp với các sở, ban, ngành liên quan và Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra việc thực hiện các quy định của pháp luật về VSATTP; kiểm soát ô nhiễm vi sinh vật và ồn dư hóa chất trong thực phẩm lưu thông trên thị trường.
1.5. Chủ trì, phối hợp với các sở, ban, ngành liên quan tổ chức tốt công tác phân tích, dự báo nguy cơ, phòng chống ngộ độc thực phẩm và các bệnh truyền qua thực phẩm cho các tuyến; từng bước triển khai việc áp dụng hệ thống quản lý VSATTP: thực hành sản xuất tốt (GMP), thực hành vệ sinh tốt (GHP) và hệ thống phân tích mối nguy và kiểm soát điểm tới hạn (HACCP).
1.6. Chủ trì, phối hợp với Sở Khoa học và Công nghệ, các sở, ngành liên quan hoàn thành việc xây dựng kế hoạch tăng cường năng lực cho các phòng xét nghiệm, kiểm nghiệm về VSATTP.
2. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn:
2.1. Tổ chức tập huấn, tuyên truyền về các quy trình, quy phạm bảo đảm an toàn thực phẩm cho các hộ nông dân sản xuất nông sản, thủy sản thực phẩm; thông tin, hướng dẫn người sản xuất về tiêu chuẩn của các thị trưòng quốc tế.
2.2. Thường xuyên kiểm tra, giám sát tồn dư hoá chất độc hại trong sản xuất nông sản, thuỷ sản thực phẩm trước khi thu hoạch, sơ chế, bảo quản ở các vùng sản xuất nông sản thực phẩm, kiếm soát chặt chẽ giết mổ và vệ sinh thú y, vệ sinh thuỷ sản; xử lý nghiêm các hành vi vi phạm. Sản phẩm nông sản thủy sản trước khi xuât khâu hoặc đưa ra thị trường tiêu thụ trong nước phải được chứng nhận bảo đảm VSATTP.
2.3. Tăng cường thanh tra, kiểm tra việc sản xuất, kinh doanh vật tư nông nghiệp, kiểm soát chặt chẽ việc sử dụng đúng chất lượng, chủng loại, liều lượng, thời gian cách ly của các loại vật tư nông nghiệp sử dụng trong trồng trọt, chăn nuôi, bảo quản, chế biến. Phát hiện và xử lý kịp thời các hành vi vi phạm.
3. Sở Công nghiệp:
3.1. Tổ chức thực hiện các biện pháp bảo đảm VSATTP đối với các cơ sở sản xuất, chế biến và bếp ăn tập thể trong các nhà máy, xí nghiệp, phòng ngừa ngộ độc thực phẩm trong khu công nghiệp. Kiểm soát chặt chẽ nguồn chất thải của các nhà máy, xí nghiệp do ngành quản lý để ngăn chặn ảnh hưởng tới các vùng nguyên liệu cho chế biên thực phẩm; xây dựng lộ trình và triển khai áp dụng GMP, GHP và HACCP cho các doanh nghiệp sản xuất, chế biến thực phẩm thuộc ngành quản lý.
3.2. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra VSATTP trong các cơ sở sản xuất thuộc phạm vi quản lý, xử lý nghiêm các vi phạm xảy ra.
4. Sở Thương mại - Du lịch:
4.1. Tăng cường kiểm tra, kiểm soát ngăn chặn việc sản xuất, kinh doanh hàng thực phẩm giả, kém chất lượng, quá hạn sử dụng, vi phạm quy định ghi nhãn hàng hóa, có nguồn gốc nhập lậu và gian lận thương mại, hàng thực phẩm vi phạm pháp luật VSATTP thuộc lĩnh vực ngành quản lý. Phối hợp với các cơ quan liên quan truy nguyên nguồn gốc, xử lý nghiêm, triệt để các hành vi vi phạm.
4.2. Phối hợp với ủy ban nhân dân huyện, thị xã trong công tác kiểm tra, thanh tra việc thực hiện các quy định về bảo đảm điều kiện VSATTP tại các chợ, các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm, kinh doanh dịch vụ ăn uống. .
5. Sở Khoa học và Công nghệ: Phối họp với Sở Y tế trong việc tổ chức kiểm tra, kiểm nghiệm chất lượng, tiêu chuẩn và nhãn mác sản phẩm thực phẩm.
6. Công an tỉnh và Bộ chỉ huy Biên phòng tỉnh:
6.1. Phối họp với các sở, ngành liên quan phát hiện, điều tra, xử lý và hỗ trợ xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về VSATTP. Chỉ đạo các lực lượng trực thuộc phối hợp với lực lượng hải quan và các cơ quan chức năng kiểm soát ngăn chặn việc nhập lậu thực phẩm qua biên giới.
6.2. Phối hợp với các sở, ngành liên quan tham gia tuyên truyền giáo dục nâng cao nhận thức và thực hành VSATTP, phòng ngừa ngộ độc thực phẩm và các bệnh truyền qua thực phẩm cho đồng bào dân tộc khu vực đóng quân, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo.
7. Sở Văn hoá - Thông tin, Báo Kon Tum, Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh: Phố hợp với Sở Y tế và các sở, ngành liên quan tố chức tốt công tác thông tin, tuyên truyền, phổ biến kiến thức pháp luật về VSATTP. Thông báo rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng các sản phâm không đảm bảo tiêu chuẩn VSATTP đang lưu hành trên thị trường sau khi được các cơ quan có thẩm quyền công bố. Chú ý các biện pháp tuyên truyên phù hợp nhằm thay đổi các phong tục, tập quán lạc hậu trong trồng trọt, chăn nuôi, bảo quản và chế biến thực phẩm của người dân.
8. Sở Nội vụ: Chủ trì, phối hợp với Sở Y tế, Thanh tra tỉnh và các sở, ngành liên quan tham mưu Uỷ ban nhân dân tỉnh củng cố, kiện toàn hệ thống tổ chức, quản lý, thanh tra và kiểm nghiệm VSATTP.
9. Sở Tài chính:
9.1. Phối hợp với Sở Y tế, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và các cơ quan liên quan xây đụng cơ chế phối họp và triển khai các biện pháp tăng cường quản lý, kiểm soát việc nhập khâu thực phẩm, vật tư phục vụ chăn nuôi, trồng trọt, chế biến, bảo quản thực phẩm.
9.2. Cân đối nguồn tài chính đảm bảo cho các hoạt động của chương trình VSATTP.
10. Sở Kế hoạch và Đầu tư: Xây dựng kế hoạch đầu tư và huy động các nguồn lực từ xã hội và các tổ chức trong và ngoài nước để xây dựng hệ thống cơ sở vật chất và kỹ thuật cho công tác bảo đảm VSATTP.
11. Ban quản lý các khu, cụm công nghiệp tỉnh: Phối hợp với Sở Y tế xây dựng Quy chế quản lý chất lượng VSATTP đối với Ban quản lý các khu, cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh.
12. Sở Giáo dục và Đào tạo:
12.1. Chỉ đạo thực hiện tốt công tác bảo đảm VSATTP trong hệ thống các trường học. Tuyệt đối không để các cơ sở dịch vụ ăn uống không đủ điều kiện VSATTP cung ứng các dịch vụ ăn uống cho các trường học.
12.2. Chủ động xây dựng các mô hình bếp ăn bảo đảm VSATTP tại các trường học gắn với phong trào dạy tốt, học tốt và các phong trào khác của ngành.
12.3. Phối hợp với Sở Y tế tổ chức tuyên truyền, giáo dục VSATTP trong các trường học; đồng thời huy động giáo viên, học sinh, sinh viên tham gia tích cực công tác đảm bảo VSATTP.
13. Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã:
13.1. Chỉ đạo xây dựng vùng sản xuất, chế biến nông sản thực phẩm, đặc biệt là sản xuất rau quả và chăn nuôi gia súc, gia cầm, thuỷ sản an toàn, xây dựng các cơ sở giết mổ gia súc, gia cầm hợp vệ sinh, bảo vệ môi trường trên địa bàn.
13.2. Tổ chức kiểm tra chặt chẽ việc thực hiện các quy định của pháp luật về VSATTP, đặc biệt các quy định về điều kiện VSATTP của các bếp ăn tập thể, nhà hàng, khách sạn, dịch vụ thức ăn đường phố, chợ, trường học, khu công nghiệp, khu chế xuất...; quy định rõ trách nhiệm của các đơn vị có cơ sở dịch vụ ăn uống, kiên quyết không để các cơ sở không đủ điều kiện theo quy định của pháp luật sản xuất, kinh doanh thực phẩm, cung ứng dịch vụ ăn uống; xử lý nghiêm các vi phạm xảy ra.
13.3. Thực hiện các biện pháp phòng ngừa, khắc phục ngộ độc thực phẩm và các bệnh truyền qua thực phẩm theo quy định của pháp luật.
13.4. Chỉ đạo các cơ quan thông tin, tuyên truyền của địa phương phối họp chặt chẽ với cơ quan Y tế tô chức phố biến kiến thức và thực hành VSATTP đến các nhóm đối tượng; lồng ghép nội dung bảo đảm VSATTP vào tiêu chuẩn công nhận làng văn hoá, gia đình văn hoá.
13.5. Kiện toàn và nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Ban chỉ đạo liên ngành VSATTP tuyến huyện, xã. Hàng năm xây dựng kế hoạch hoạt động, tổ chức phân công nhiệm vụ thực hiện và kiểm tra, giám sát, đánh giá việc triển khai thực hiện của từng cơ quan, đơn vị, địa phương.
13.6. Phối hợp với Sở Y tế xem xét, bố trí nhân lực quản lý VSATTP của tuyến xã; tổ chức và bố trí đủ nhân lực thanh tra, kiểm nghiệm VSATTP của huyện.
13.7. Đầu tư ngân sách và trang thiết bị cho các hoạt động VSATTP của địa phương.
14. Đề nghị ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh và các đoàn thể liên quan: Phối hợp với Sở Y tế, các ngành, đơn vị, địa phương tổ chức tốt các hoạt động tuyên truyền, giáo dục, phố biến các kiến thức và văn bản quy phạm pháp luật về vệ sinh an toàn thực phẩm.
Yêu cầu các sở, ban, ngành, đơn vị, địa phương triển khai thực hiện tốt các nhiệm vụ được giao; định kỳ 6 tháng, hàng năm báo cáo kết quả thực hiện về Sở Y tế. Giao Sở Y tế là cơ quan đầu mối chịu trách nhiệm theo dõi đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện Chỉ thị; tổng hợp tình hình, báo cáo Bộ Y tế và Uỷ ban nhân dân tỉnh.
Chỉ thị này có hiệu lực sau 10 ngày kể từ ngày ký ban hành./.