NGHỊ QUYẾT
Về tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2006 và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2007
_________________________
HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TỈNH LAI CHÂU
KHOÁ XII KỲ HỌP THỨ 9
Căn cứ Luật Tổ chức HĐND và UBND ngày 26/11/2003;
Trên cơ sở xem xét Báo cáo số: 110/BC-UBND ngày 20 tháng 11 năm 2006 của UBND tỉnh về tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2006 và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2007; Báo cáo thẩm tra của các Ban Hội đồng nhân dân tỉnh và ý kiến của các Đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh,
QUYẾT NGHỊ:
Hội đồng nhân dân tỉnh tán thành Báo cáo đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2006 và Thông qua kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2007 được nêu trong báo cáo của Uỷ ban nhân dân với những nội dung chính như sau:
I. ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN NHIỆM VỤ NĂM 2006.
Năm 2006, tình hình kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh có nhiều chuyển biến tích cực. Hầu hết các chỉ tiêu chủ yếu đều đạt và vượt mức kế hoạch theo Nghị quyết HĐND tỉnh. Các lĩnh vực sản xuất tiếp tục phát triển, nền kinh tế tiếp tục tăng trưởng khá, tốc độ tăng trưởng GDP đạt 12%, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, hạ tầng kinh tế - xã hội được cải thiện và từng bước được nâng lên; các mặt văn hoá, xã hội được quan tâm giải quyết, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng lên.
Cơ cấu các ngành dịch vụ có sự thay đổi theo hướng gia tăng, hệ thống nhà hàng, khách sạn phát triển nhanh cơ bản đáp ứng được nhu cầu của thị trường. Các hoạt động thương mại diễn ra sôi động, đáp ứng tốt hơn nhu cầu tiêu dùng và sản xuất kinh doanh. Các thành phần kinh tế tích cực đóng góp vào tăng trưởng chung của nền kinh tế. Các mặt văn hoá - xã hội tiếp tục phát triển, xây dựng đời sống mới có nhiều chuyển biến tích cực, góp phần định hướng lối sống lành mạnh và giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc, làm phong phú thêm đời sống tinh thần của nhân dân. Chính trị ổn định, quốc phòng được củng cố, an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội tiếp tục được giữ vững; tệ nạn xã hội và tội phạm hình sự tiếp tục được kiềm chế tạo điều kiện để tỉnh vững bước vào thời kỳ hội nhập của đất nước.
Bên cạnh những kết quả đạt được, tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh vẫn còn một số tồn tại, hạn chế đó là:
- Kinh tế phát triển chưa đồng đều, chưa bền vững, chưa có sự chuyển biến mạnh mẽ trong các ngành lĩnh vực, tốc độ phát triển GDP đạt kế hoạch song chưa tương xứng với tiềm năng, thế mạnh, chất lượng tăng trưởng thấp, cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm.
- Việc quản lý, sử dụng, giám sát nguồn lực của Nhà nước chưa cao, triển khai thực hiện đầu tư XDCB và giải ngân chậm, nhất là chương trình mục tiêu quốc gia. Công tác quyết toán vốn đầu tư chưa được chủ đầu tư quan tâm thực hiện.
- Một số lĩnh vực về xã hội chuyển biến chưa rõ nét, nhất là cơ sở trường lớp học cho giáo dục, hệ thống y tế cơ sở vùng sâu, vùng xa, xoá đói giảm nghèo, tỷ lệ người nhiễm HIV/AIDS, cai nghiện ma tuý...
- Mức giảm tỷ lệ nghèo nhanh xong chưa bền vững, ý thức tự vươn lên của người dân thấp, đời sống nhân dân các dân tộc ở vùng sâu, vùng xa, còn nhiều khó khăn, chưa có sự chuyển biến rõ nét.
- Cải cách hành chính chưa đáp ứng được nhu cầu; công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí tuy đạt được một số kết quả khả quan song vẫn còn nghiêm trọng.
- Một số chỉ tiêu chủ yếu không đạt so với kế hoạch đề ra như chỉ tiêu: Di dân, tái định cư dự án thủy điện Sơn La; Đường ô tô đến trung tâm xã, khai hoang ruộng nước; độ che phủ rừng.
II. MỤC TIÊU, CÁC CHỈ TIÊU CHỦ YẾU CỦA KẾ HO¹CH 2007.
1. Mục tiêu tổng quát:
(1). Đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế, tập trung chỉ đạo giải quyết triệt để các vấn đề bức xúc xã hội và các nhân tố tiềm ẩn ảnh hưởng đến tình hình an ninh, quốc phòng. Tạo bước chuyển biến mạnh mẽ về cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực. Đẩy mạnh áp dụng tiến bộ khoa học, công nghệ vào hoạt động quản lý, sản xuất, giảm tối đa các chi phí trung gian không cần thiết, tăng sức cạnh tranh hàng hoá trên thị trường; thu hút mạnh hơn vốn đầu tư của khu vực dân doanh để khai thác có hiệu quả tiềm năng và thế mạnh của tỉnh: Phát huy lợi thế về cửa khẩu, tài nguyên khoáng sản, thủy điện, đất đai, khí hậu để phát triển các ngành kinh tế; Tạo mọi điều kiện thuận lợi để tăng nhanh giá trị xuất khẩu, thu hút vốn đầu tư và công nghệ cao từ bên ngoài. Rà soát lại chính sách thu hút ưu đãi đầu tư, cải cách thủ tục hành chính để tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các doanh nghiệp vào đầu tư và phát triển trên địa bàn tỉnh, cải thiện năng lực cạnh tranh về môi trường kinh doanh của tỉnh.
(2) Đẩy nhanh tiến độ xây dựng hệ thống hạ tầng kỹ thuật ở các khu đô thị mới, chuẩn bị khởi công xây dựng một số dự án hạ tầng kinh tế - xã hội cấp bách, nhất là các dự án thuộc nguồn trái phiếu chính phủ, nguồn ODA, nguồn vốn tái định cư các dự án thuỷ điện, các dự án thuộc nguồn vốn của các đơn vị trung ương đóng trên địa bàn. Kiểm soát chặt chẽ đầu tư nguồn NSNN, đầu tư có trọng tâm, trọng điểm, khắc phục tình trạng đầu tư dàn trải, thất thoát, lãng phí, thực hành tiết kiệm để tiếp tục phát triển.
(3). Tiếp tục tập trung cho xoá đói giảm nghèo ở các xã đặc biệt khó khăn. Ưu tiên vùng đồng bào dân tộc đặc biệt khó khăn như La Hủ, Mảng, Cống, Khơ mú, Si La; các xã biên giới Việt Trung. Hỗ trợ làm nhà ở cho các dân tộc đặc biệt khó khăn. Đầu tư các công trình nước sinh hoạt tập trung, hỗ trợ giống cây trồng vật nuôi cho thâm canh tăng vụ chuyển hướng sản xuất nhỏ lẻ sang sản xuất hàng hóa. Khuyến khích người dân tự khai hoang ruộng nước, xoá bỏ căn bản tình trạng du canh, đốt phá rừng làm nương rẫy, chuyển sang canh tác bằng ruộng bậc thang, nương định canh, chăn nuôi đại gia súc.
(4). Đẩy mạnh phát triển giáo dục, đào tạo, nâng cao chất lượng và nguồn nhân lực, coi đây nhiệm vụ chiến lược để tạo sự chuyển biên mới về cải thiện trình độ phát triển con người (chỉ số HDI); tiếp tục nâng cao chất lượng công tác y tế, văn hóa, thể dục thể thao; giải quyết có hiệu quả những vấn đề bức xúc xã hội như: Buôn bán, sử dụng các chất ma tuý, lợi dụng tự do tín ngưỡng để tuyên truyền đạo trái pháp luật, tai nạn giao thông, tệ nạn xã hội, buôn bán phụ nữ và trẻ em,..
(5). Phát triển kinh tế - xã hội phải kết hợp với đảm bảo quốc phòng - an ninh, ổn định chính trị, bảo vệ vững chắc chủ quyền biên giới quốc gia, bảo vệ môi trường sinh thái và phát triển bền vững. Tiếp tục mở rộng quan hệ đối nội, đối ngoại.
2. Các chỉ tiêu chủ yếu:
a. Nhóm các chỉ tiêu kinh tế.
(1) Phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng GDP năm 2007 từ 15-16%, trong đó ngành nông, lâm, thủy sản tăng 6-6,5%; Ngành công nghiệp, xây dựng tăng 27-28%; Ngành thương mại, dịch vụ tăng 19-20%.
Cơ cấu kinh tế: Nông, lâm nghiệp, thủy sản - Công nghiệp - Dịch vụ là 40 - 30 - 30(%).
(2). Thu nhập bình quân đầu người/năm (giá hiện hành) đạt trên 4,8 triệu đồng.
(3). Tổng sản lượng lương thực có hạt 135.500 tấn. Bình quân lương thực đầu người đạt trên 400kg/người.
(4). Cây công nghiệp trồng mới 100 ha chè; 300 ha thảo quả; trồng mới 400 ha cao su.
(5). Tỷ lệ tăng đàn gia súc trên 6,5%.
(6). Thực hiện tái định cư các dự án thủy điện cho 1.500 hộ, Trong đó: Thuỷ điện Sơn La: 1.000 hộ; thuỷ điện Huổi Quảng, Bản Chát: 500 hộ.
(7). Phấn đấu thu ngân sách trên địa bàn đạt trên 120 tỷ đồng.
(8). Giá trị hàng xuất khẩu sản xuất tại địa phương đạt 6,5 triệu USD.
b. Nhóm các chỉ tiêu xã hội.
(9). 82% (74/90) số xã và 64,3% số hộ được sử dụng điện lưới quốc gia.
(10). Dân số trung bình đạt 337.605 người. Tỷ lệ tăng dân số là 2,1%, trong đó tăng tự nhiên 1,88%, mức giảm tỷ lệ sinh 1,22%o.
(11). 20/90 xã (22,2%) có Trạm y tế đạt tiêu chuẩn quốc gia theo quy định của Bộ Y tế, tăng 5 xã so với năm 2006; phấn đấu đạt 3,55 bác sỹ/1 vạn dân.
(12). Đạt chuẩn phổ cập giáo dục trung học cơ sở thêm 23 xã, nâng tổng số xã được phổ cập THCS lên 47 xã. Phấn đấu 2 huyện, thị đạt chuẩn phổ cập THCS (Thị xã Lai Châu, huyện Than Uyên).
(13). Giảm tỷ lệ hộ nghèo từ 54% xuống còn dưới 48%; Giải quyết việc làm cho 4.100 người. Cai nghiện ma tuý cho 1.000 lượt người.
(14). Nâng cao tỷ lệ lao động được đào tạo lên 16%; Số lao động được đào tạo trong năm 5.000 người, trong đó đào tạo nghề cho 4.500 người.
(15). 70% số hộ nghe được đài phát thanh, trên 60% số hộ xem được truyền hình.
(16). Có 100 làng, bản, khu phố đăng ký xây dựng đơn vị văn hoá, trong đó có ít nhất 30% được công nhận đạt chuẩn.
c. Nhóm các chỉ tiêu môi trường.
(17). Tỷ lệ che phủ rừng 40%.
(18). Trên 35% dân số đô thị được sử dụng nước sạch; trên 50% dân số nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh.
III. NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP THỰC HIỆN KẾ HOẠCH NĂM 2007.
1. Quán triệt sâu sắc Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Lai Châu lần thứ XI, Quyết định của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Lai Châu thời kỳ 2006 - 2020.
2. Tập trung chỉ đạo thực hiện các đề án và triển khai có hiệu quả 6 chương trình trọng điểm theo Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Lai Châu lần thứ XI.
3. Rà soát sửa đổi, bổ sung các cơ chế chính sách phát triển kinh tế - xã hội thuộc thẩm quyền của Tỉnh, nhất là chính sách thu hút, ưu đãi đầu tư, chính sách hỗ trợ phát triển nông thôn, nông dân, nông nghiệp.
4. Tập trung triển khai có hiệu quả các chương trình giống cây trồng, vật nuôi; tiếp tục đưa các giống mới có năng suất, chất lượng cao vào sản xuất.
Tăng cường công tác khuyến nông, khuyến lâm, đưa nhanh tiến độ khoa học kỹ thuật, công nghệ vào sản xuất, từng bước chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng sản xuất hàng hoá. Thâm canh, tăng vụ, nâng cao hiệu quả kinh tế trên một đơn vị diện tích. Tăng diện tích rừng phòng hộ, phát triển rừng sản xuất đáp ứng nhu cầu nguyên liệu cho nhà máy chế biến bột giấy, xuất khẩu.
5. Tiếp tục đẩy nhanh tiến độ sắp xếp, đổi mới và nâng cao năng lực quản lý điều hành, tổ chức sản xuất kinh doanh hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Nhà nước do địa phương quản lý. Đáp ứng đòi hỏi của cơ chế thị trường, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trên địa bàn.
6. Tăng cường huy động các nguồn lực cho đầu tư phát triển. Nâng cao hiệu quả trong quản lý đầu tư, chống dàn trải, nợ đọng, lãng phí, thất thoát, tiêu cực trong quản lý đầu tư. Tích cực huy động nguồn vốn từ các thành phần kinh tế để giảm bớt áp lực cho nguồn ngân sách nhà nước.
Tập trung nguồn lực, tiết kiệm trong đầu tư, huy động vốn được bổ sung để ưu tiên tập trung cho hệ thống các dự án, công trình quan trọng được xác định, ưu tiên về nguồn vốn.Triển khai thực hiện đấu giá đất tạo vốn xây dựng cơ sở hạ tầng các đô thị.
Tăng cường công tác thanh kiểm tra và giám sát quản lý xây dựng, đảm bảo chất lượng, hiệu quả vốn đầu tư; tăng cường công tác thanh tra, giám sát, giám định chất lượng công trình; đẩy mạnh công tác giám sát đầu tư cộng đồng, lấy công tác giám sát cộng đồng trên địa bàn các thị trấn, thị tứ, thị xã làm hạt nhân, đẩy mạnh hoạt động của nhân dân trong giám sát cộng đồng.
7. Tăng cường đầu tư, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho phát triển đào tạo nghề, nâng cao chất lượng nguồn lực lao động, đi đôi với tạo việc làm theo hướng xuất khẩu lao động.
8. Tiếp tục triển khai có hiệu quả công tác xoá đói giảm nghèo theo Nghị quyết 05 của Tỉnh uỷ. Tăng cường tuyên truyền, vận động người dân nâng cao ý thức tự vươn lên thoát nghèo và giúp người khác thoát nghèo tiến tới làm giầu. Thực hiện tốt chính sách cho vay vốn giải quyết việc làm và tạo việc làm mới cho người lao động.
9. Duy trì phát triển mạnh các hoạt động văn hoá, nhất là văn hoá cơ sở, xây dựng nền văn hoá đậm đà bản sắc dân tộc, bảo tồn phát huy các giá trị văn hoá của các dân tộc. Duy trì phát triển các bản, làng, khu phố văn hoá.
10. Triển khai tốt các quy định về Luật Đất đai; quản lý chặt chẽ việc thực hiện quy hoạch và phát triển đô thị. Tập trung tháo gỡ các khó khăn vướng mắc trong giải phóng mặt bằng để đẩy nhanh tiến độ đầu tư. Kiểm soát chặt chẽ việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất. Công khai hợp pháp các thủ tục chuyển nhượng, chuyển đổi mục đích sử dụng đất phục vụ cho công tác quản lý đất đai và tăng thu ngân sách.
11. Đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao năng lực của các cơ quan quản lý Nhà nước. Tiếp tục rà soát loại bỏ các quy trình, thủ tục hành chính trùng chéo, phức tạp, phiền hà cho các tổ chức và cá nhân. Xây dựng và thực hiện có hiệu quả chương trình hành động phòng chống tham nhũng. Xử lý nghiêm khắc những hành vi lợi dụng chức, quyền để tham nhũng, gây thất thoát, lãng phí tài sản và tiền của nhà nước.
12. Cùng với việc đẩy mạnh phân cấp, cần tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát của các cơ quan quản lý Nhà nước, của HĐND các cấp; tăng cường thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, phát huy công tác giám sát của Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể nhân dân trong việc thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và vốn đầu tư từ NSNN.
13. Đổi mới công tác điều hành của UBND tỉnh và các ngành, phân công, phân cấp rõ nhiệm vụ và trách nhiệm của từng cấp, từng ngành, từng đơn vị, không dây dưa, đùn đẩy trách nhiệm; lựa chọn những nhiệm vụ trọng tâm để tập trung chỉ đạo.
14. Phát động phong trào thi đua sâu rộng trong toàn tỉnh chào mừng các ngày lễ lớn trong năm 2007. Tăng cường công tác thông tin báo cáo, đảm bảo thông tin kịp thời, chính xác theo quy định giúp cho việc chỉ đạo điều hành của UBND các cấp.
IV. Tổ chức thực hiện
Uỷ ban nhân dân tỉnh, các ngành, các cấp, căn cứ Nghị quyết này chủ động chỉ đạo, điều hành và tổ chức thực hiện thắng lợi kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội năm 2007.
Đề nghị Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh và các tổ chức thành viên của Mặt trận động viên nhân dân các dân tộc trong tỉnh thực hiện tốt Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh.
Hội đồng nhân dân tỉnh kêu gọi cán bộ, công nhân viên chức, chiến sỹ các lực lượng vũ trang, đồng bào các dân tộc trong tỉnh nâng cao tinh thần đoàn kết, động viên mọi nguồn lực, vượt qua thử thách, phấn đấu thực hiện thắng lợi nhiệm vụ năm 2007.
Nghị quyết này ®· được Hội đồng nhân dân tỉnh Lai Châu khoá XII, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 8 tháng 12 năm 2006./.