QUYẾT ĐỊNH CỦA UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH LAI CHÂU
Về quy trình cứu trợ - Mức cứu trợ cho nhân dân
bị thiệt hại do thiên tai, lũ lụt, hoả hoạn
_________________
UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH LAI CHÂU
Căn cứ điều 90 Luật tổ chức HĐND-UBND ngày 10/12/2003 quy định nhiệm vụ quyền hạn của UBND các cấp.
Căn cứ Quyết định số 63/2002/QĐ-TTg ngày 20/5/2002 của Thủ tướng Chính phủ về công tác phòng chống lụt bão, giảm nhẹ thiên tai năm 2002 và Công văn số 2131/LĐTBXH-BTXH ngày 4/7/2002 của Bộ Lao động-TBXH hướng dẫn thực hiện Quyết định số 63/2002/QĐ-TTg.
Xét tình hình thực tế, khả năng ngân sách của địa phương và đề nghị của ngành Lao động-TBXH & Tài chính tại Tờ trình số 309/TTLN-LĐTBXH & TC ngày 07/10/2004.
QUYẾT ĐỊNH
Điều I: Quy định quy trình, thủ tục cứu trợ và mức cứu trợ cho nhân dân bị thiệt hại khi thiên tai xảy ra trên địa bàn tỉnh như sau:
1. Các loại hình thiên tai xảy ra cần phải cứu trợ:
1.1. Gió lốc và mưa đá.
1.2. Lũ bùn.
1.3. Lũ quét.
1.4. Lũ gây ngập úng dài ngày.
1.5. Hoảhoạn.
Và một số thiên tai khác như: Động đất, mất mùa nặng do sương muôi, sâu bệnh nặng.v.v...
2. Nguyên tắc cứu trợ:
- Hàng năm cấp huyện và cấp xã, đặc biệt những khu vực xung yếu thường xảy ra thiên tai phải có các phương án phòng chống thiên tai, ứng cứu kịp thời với những diễn biến thiên tai xảy ra nhằm giảm thiểu tối đa nhũng thiệt hại về người và tài sản của nhân dân và của nhà nước, từ đó hạn chế được việc cứu trợ thiên tai.
- Công tác cứu trợ phải thực hiện với phương châm kịp thời, đúng đối tượng; phân phối tiền, hàng cứu trợ phải đảm bảo tính dân chủ, công khai, quản lý chặt chẽ nguồn tiền, hàng cứu trợ để tránh thất thoát và đảm bảo được hiệu quả cứu trợ.
- Đối với những thiệt hại nặng phải có giải pháp cứu trợ khẩn cấp, sử dụng ngay các nguồn lực tại chỗ; đồng thời với việc báo cáo cấp trên hỗ trợ.
3. Quy trình giải quyết cứu trợ khi thiên tai xảy ra.
3.1- Khi thiên tai gây thiệt hại xảy ra trên địa bàn thôn bản, xã hoặc trong phạm vi toàn huyện. Uỷ ban nhân dân xã, huyện thành lập Ban chỉ đạo cứu hộ, cứu trợ vận động, tiếp nhận và phân phối tiền hàng cứu trợ; tổ chức cứu hộ, cứu trợ khẩn cấp cho nhân dân trong vùng xảy ra thiên tai; đồng thời Ban chỉ đạo cứu hộ, cứu trợ khẩn trương thống kê ngay thiệt hại, lập danh sách mức độ thiệt hại của tổ chức và công dân trên địa bàn làm căn cứ để đề nghị mức xét cứu trợ.
Ban chỉ đạo gồm Trưởng ban là: đồng chí lãnh đạo UBND (Chủ tịch hoặc phó chủ tịch);
Phó Trưởng ban là đại diện Lao động-TBXH và Lãnh đạo Mặt trận Tổ quốc cùng cấp;
Các uỷ viên gồm đại diện các đoàn thể khác, ở huyện là đại diện các phòng huyện có liên quan, ở xã là cán bộ xã có liên quan.
3.2 Đối với những vùng xung yếu thường xảy ra thiên tai, những vùng sâu, vùng xa khi thiên tai xảy ra thường bị cô lập với xung quanh, vùng có nguy cơ sạt lở diện rộng nguy hiểm. Ban chỉ đạo phải có phương án tổ chức di dời dân đến noi an toàn, có kế hoạch vận động nhân dân chủ động dự phòng lương thực, chất đốt, thuốc men và các vật dụng thiết yếu khác với phương châm 4 tại chỗ:
- Chỉ huy tại chỗ.
- Lực lượng tại chỗ.
- Vật tư, phương tiện, kinh phí tại chỗ.
- Hậu cần tại chỗ.
Thực hiện tốt nghiêm túc công tác thống kê, thông tin báo cáo từ cơ sở đến cấp tỉnh.
3.3 Thủ tục giải quyết cứu trợ.
- Khi thiên tai xảy ra gây thiệt hại trên địa bàn, căn cứ vào báo cáo của ban chỉ đạo cứu hộ, cứu trợ của xã về thống kê thiệt hại, danh sách các đối tượng cần được cứu trợ, UBND xã thành lập Hội đồng xét duyệt cứu trợ gồm:
+ Chủ tịch hoặc Phó chủ tịch UBND xã làm Chủ tịch Hội đồng.
+ Các uỷ viên gồm: Cán bộ làm công tác Lao động-TBXH của xã là Uỷ viên thường trực và lãnh đạo các đoàn thể xã, địa bàn như: Mặt trận Tổ quốc; Hội Cựu chiến binh; Hội Phụ nữ;... Trưởng thôn, bản (hoặc người có uy tín trong thôn, bản, nếu trưởng thôn, bản cũng bị nạn không đến dự được) ở nơi xảy ra thiên tai.
Hội đồng xét duyệt cứu trợ phải kết luận bằng biên bản và lập danh sách xin cứu trợ kèm theo (Số hộ và số nhân khẩu). Sau khi được Hội đồng xét duyệt thông qua, Chủ tịch UBND xã có công văn đề nghị Chủ tịch UBND huyện xem xét quyết định (Kèm theo công văn đề nghị có biên bản xét duyệt của Hội đồng và danh sách các đối tượng cần được cứu trợ).
Phòng Tổ chức Lao động-TBXH các huyện giúp Ban chỉ đạo cứu hộ, cứu trợ của huyện tổng hợp danh sách và văn bản đề nghị cứu trợ của các xã có thiên tai xảy ra, căn cứ vào nguồn kinh phí đảm bảo xã hội của huyện, ủng hộ của các tổ chức, cá nhân báo cáo chủ tịch UBND huyện quyết định trợ cấp, cứu trợ và hướng dẫn các xã tổ chức thực hiện cứu trợ cho các đối tượng.
Trong quá trình tổ chức cứu trợ nếu nguồn tài chính của địa phương không đáp ứng yêu cầu cứu trợ thì Chủ tịch UBND huyện báo cáo bằng văn bản đề nghị UBND tỉnh hỗ trợ. (Đồng thời gửi Sở Lao động-TBXH; Sở Tài chính).
Sau khi thực hiện công tác cứu trợ các huyện phải tổng hợp báo cáo khẩn trương kết quả thực hiện công tác cứu trợ và những vấn đề cần phải giải quyết tiếp theo về UBND tỉnh (Thông qua Sở Lao động-TBXH để tổng hợp báo cáo Bộ Lao động TBXH).
Trường hợp cứu trợ không đúng đối tượng, quy định thì địa phương ra quyết định trợ cấp phải chịu trách nhiệm thu hồi số kinh phí trợ cấp sai.
4. Mức cứu trợ.
Căn cứ vào mức độ thiệt hại do thiên tai xảy ra, UBND các huyện quyết định mức hỗ trợ cho từng đối tượng. Định mức hỗ trợ như sau:
- Hộ có người bị chết: 2. 000.000 đồng/người.
- Người bị thương phải vào cơ sở y tế điều trị:
+ Dưới 5 ngày: 200.000 đồng/người.
+ 5 ngày trở lên: 500.000 đổng/người.
- Nhà ở bị trôi, bị cháy, bị đất đá vùi lấp hoàn toàn: 2.000.000 đồng/hộ.
- Nhà ở bị đổ hư hỏng nặng từ 51 % trở lên: 1.000.000 đồng/hộ.
- Nhà ở bị hư hỏng trên 30% đến 50%: 500.000 đồng/hộ.
- Lương thực: 10 kg/khẩu/tháng.
- Căn cứ vào thực tế, thời vụ để xem xét hỗ trợ từ 1-3 tháng.
*-Các hộ mất hoàn toàn dụng cụ sinh hoạt, công cụ sản xuất thì được hỗ trợ.
• Dụng cụ sinh hoạt:
- Bát đựng cơm: 1 cái/khẩu
- Bát đựng canh: 1 cái /hộ có 5 khẩu trở xuống
2 cái /hộ có 6 khẩu trở lên
- Xoong nhôm đường kính 20 cm: 1 cái/hộ có 5 khẩu trở xuống
2 cái/hộ có 6 khẩu trở lên
- Xoong nhôm đường kính 25 cm-35 cm: 1 cái/hộ có 5 khẩu trở xuống
2 cái/hộ có 6 khẩu trở lên
- Đĩa các loại: 3 cái/hộ có 5 khẩu trở xuống
5 cái/hộ có 6 khẩu trở lên
- Muôi canh: 2 cái/hộ có 5 khẩu trở xuống
5 cái/hộ có 6 khẩu trở lên
- Quần áo dài (Vải thông thường): 1 bộ/khẩu
- Quần áo lót: 2 bộ/khẩu
- Áo ấm thông dụng (nếu là mùa đông): 1 áo/khẩu
- Chăn bông (Vỏ vải thường 3 kg): 1 cái/hộ có 5 khẩu trở xuống
2 cái/hộ có 6 khẩu trở lên.
- Chăn sợi: 1 cái/hộ có 5 khẩu trở xuống
2 cái/hộ có 6 khẩu trở lên
-
Màn đôi: 1 cái/hộ có 5 khẩu trở xuống
2 cái/hộ có 6 khẩu trở lên
- Màn cá nhân: 1 cái/hộ có 5 khẩu trở xuống
2 cái/hộ có 6 khẩu trở lên
- Chiếu cá nhân: 2 cái/hộ
- Chiếu đôi: 2 cái/hộ
* Công cụ sản xuất:
- Dao các loại: 2 con/hộ 5 khẩu trở xuống
3 con/hộ 6 khẩu trở lên
- Cuốc: 1 cái/lao động chính.
- Xẻng: 1 cái/lao động chính.
- Cày: 1 cái/hộ
- Bừa: 1 cái/hộ
* Giá hỗ trợ: Theo báo cáo giá thời trường của Sở Tài chính tại thời điểm.
Điều II: Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký và thay thế cho những quy định trước đây về quy trình, thủ tục, mức cứu trợ cho nhân dân bị thiệt hại do thiên tai của tỉnh.
Điều III: Các ông: Chánh Văn phòng HĐND-UBND tỉnh; Giám đốc các Sở: Tài chính; Lao động TBXH; Kế hoạch-Đầu tư; Chủ tịch UBND các huyện; Thủ trưởng các Ban, Ngành liên quan chịu trách nhiệm thi hành quyết định này./.