THÔNG TƯ
Quy định trình tự điều tra, giải quyết tai nạn giao thông
đường sắt của lực lượng Cảnh sát giao thông
Căn cứ Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Căn cứ Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Căn cứ Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự năm 2015;
Căn cứ Luật Đường sắt năm 2017;
Căn cứ Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012;
Căn cứ Luật Giao thông đường bộ năm 2008;
Căn cứ Luật Công an nhân dân năm 2014;
Căn cứ Luật Trưng mua, trưng dụng tài sản năm 2008;
Căn cứ Nghị định số 01/2018/NĐ-CP ngày 06 tháng 8 năm 2018 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công an;
Theo đề nghị của Cục trưởng Cục Cảnh sát giao thông,
Bộ trưởng Bộ Công an ban hành Thông tư quy định trình tự điều tra, giải quyết tai nạn giao thông đường sắt của lực lượng Cảnh sát giao thông.
Chương I
QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1. Phạm vi điều chỉnh
Thông tư này quy định về nguyên tắc, trình tự điều tra, giải quyết tai nạn giao thông đường sắt của lực lượng Cảnh sát giao thông.
Điều 2. Đối tượng áp dụng
1. Sĩ quan, hạ sĩ quan Cảnh sát giao thông, lực lượng Công an khác có liên quan.
2. Công an các đơn vị, địa phương.
3. Cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan.
Điều 3. Nguyên tắc điều tra, giải quyết tai nạn giao thông đường sắt
1. Tuân thủ quy định của Thông tư này và các quy định khác của pháp luật có liên quan.
2. Bảo đảm nhanh chóng, kịp thời, chính xác, khách quan, toàn diện, tránh chồng chéo.
3. Không được lợi dụng, lạm dụng công tác điều tra, giải quyết tai nạn giao thông đường sắt để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.
Điều 4. Biểu mẫu sử dụng trong công tác điều tra, giải quyết tai nạn giao thông đường sắt
1. Biểu mẫu sử dụng trong công tác điều tra, giải quyết tai nạn giao thông đường sắt thực hiện theo quy định tại Thông tư số 61/2017/TT-BCA ngày 14 tháng 12 năm 2017 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định biểu mẫu, giấy tờ, sổ sách về điều tra hình sự và biểu mẫu quy định tại khoản 2 Điều này.
2. Ban hành kèm theo Thông tư này mẫu Biên bản xác định chỉ tiêu kỹ thuật đường sắt, đường ngang, cầu chung, cầu, hầm, ghi liên quan đến vụ tai nạn giao thông đường sắt (mẫu số 01ĐS/TNGT).
Chương II
TRÌNH TỰ ĐIỀU TRA, GIẢI QUYẾT
TAI NẠN GIAO THÔNG ĐƯỜNG SẮT
Mục 1
TRÌNH TỰ ĐIỀU TRA TAI NẠN GIAO THÔNG ĐƯỜNG SẮT
Điều 5. Tiếp nhận tin báo
1. Cán bộ nhận tin báo về vụ tai nạn giao thông đường sắt phải hỏi rõ và ghi vào Sổ theo dõi vụ tai nạn giao thông các thông tin sau:
a) Họ tên, địa chỉ, số điện thoại (nếu có) của người báo tin;
b) Thời gian nhận tin báo, địa điểm xảy ra vụ việc;
c) Thiệt hại ban đầu về người (số người chết, số người bị thương); phương tiện (đường bộ, đường sắt), thiết bị đường sắt và tài sản khác (nếu có);
d) Nếu người báo tin là cán bộ, nhân viên ngành đường sắt thì phải hỏi thêm những việc đã xử lý tại hiện trường (tổ chức cấp cứu người bị nạn, bảo vệ hiện trường); các thông tin liên quan đến tai nạn giao thông đường sắt, hình thức vụ tai nạn: đổ tàu, chẻ ghi, trật bánh đầu máy, trật bánh toa xe, tàu đâm va phương tiện giao thông khác, vật cản, tàu va cán người; mác tàu, trưởng tàu, lái tàu, phụ lái tàu;
đ) Họ tên, địa chỉ, số điện thoại của những người liên quan hoặc người biết vụ tai nạn giao thông đường sắt xảy ra (nếu có);
e) Những thông tin khác về vụ tai nạn giao thông đường sắt (nếu có).
2. Ngay sau khi nhận tin báo theo quy định tại khoản 1 Điều này, cán bộ nhận tin phải báo cáo cho lãnh đạo trực chỉ huy đơn vị để chỉ đạo việc điều tra, giải quyết theo quy định.
Điều 6. Xử lý tin báo
1. Cục Cảnh sát giao thông nhận được tin báo về vụ tai nạn giao thông đường sắt phải thông báo cho Phòng Cảnh sát giao thông đường bộ, đường sắt hoặc Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là Phòng Cảnh sát giao thông Công an cấp tỉnh). Trường hợp vụ tai nạn xảy ra trên tuyến làm nhiệm vụ kiểm tra, kiểm soát của Cục Cảnh sát giao thông thì ngoài việc thông báo cho Phòng Cảnh sát giao thông Công an cấp tỉnh còn phải thông báo cho đơn vị trên tuyến để cử cán bộ đến hiện trường tổ chức cấp cứu người bị nạn, bảo vệ hiện trường, bảo vệ tài sản của người bị nạn, xác định người biết việc.
2. Phòng Cảnh sát giao thông Công an cấp tỉnh nhận được tin báo về vụ tai nạn giao thông đường sắt phải cử cán bộ đến hiện trường tổ chức cấp cứu người bị nạn, bảo vệ hiện trường, bảo vệ tài sản, xác định người biết việc; đồng thời, thông báo ngay cho Công an cấp huyện nơi xảy ra vụ tai nạn để cử cán bộ đến hiện trường điều tra, giải quyết.
3. Công an cấp huyện nhận được tin báo, nếu vụ tai nạn giao thông đường sắt thuộc địa bàn quản lý thì phải cử ngay cán bộ đến hiện trường để điều tra, giải quyết. Trường hợp vụ tai nạn không thuộc địa bàn quản lý thì phải báo cáo Phòng Cảnh sát giao thông Công an cấp tỉnh và thông báo cho Công an cấp huyện nơi xảy ra vụ tai nạn giao thông đường sắt để thụ lý điều tra, giải quyết theo thẩm quyền, đồng thời cử cán bộ phối hợp giải quyết ban đầu (khi có yêu cầu).
4. Cơ quan Công an quy định tại khoản 1, khoản 2 và khoản 3 Điều này khi nhận được tin báo về vụ tai nạn giao thông đường sắt thì thông báo cho Cục Đường sắt để phối hợp điều tra, giải quyết theo quy định.
5. Trường hợp nhận được tin báo vụ tai nạn giao thông đường sắt gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe con người, tài sản theo quy định tại khoản 3 thuộc một trong các điều 260, 262, 263, 264, 267, 268, 269, 270, 271, 281; khoản 4 Điều 265 và khoản 4 Điều 266 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) thì phải báo cáo ban đầu theo quy định của Bộ Công an.
Điều 7. Những việc làm ngay khi đến hiện trường
Cán bộ Cảnh sát giao thông khi đến hiện trường cần thực hiện những công việc sau:
1. Tổ chức cấp cứu người bị nạn:
a) Quan sát hiện trường phát hiện mối nguy hiểm như cháy, nổ, chất độc hại hoặc nguy cơ khác đe dọa đến tính mạng, sức khỏe của con người, tài sản để tổ chức cứu nạn, cứu hộ phù hợp;
b) Kiểm tra số người bị chết, bị thương, thông báo kịp thời cho cơ sở y tế nơi gần nhất hoặc Trung tâm cấp cứu 115 để tổ chức cấp cứu người bị nạn. Trường hợp người bị nạn còn nằm trên đường giao thông thì phải đánh dấu vị trí người bị nạn, tổ chức việc sơ cứu trước khi đưa đi cấp cứu; trường hợp sử dụng phương tiện giao thông đường bộ liên quan đến vụ tai nạn để đưa người bị nạn đi cấp cứu thì phải đánh dấu vị trí của phương tiện, vị trí dấu vết trên phương tiện.
2. Trường hợp đến hiện trường mà người bị nạn trong vụ tai nạn đã được đưa đi cấp cứu thì phải xác minh thông tin về nhân thân, tình trạng thương tích của họ và đề xuất biện pháp giải quyết.
Trường hợp người bị nạn đã chết thì phải giữ nguyên vị trí và che đậy người bị nạn; nếu ở vị trí gây ùn tắc giao thông phải đánh dấu vị trí, chụp ảnh, quay camera (nếu có) và đưa người bị nạn vào vị trí thích hợp, che đậy lại.
3. Thông báo cho doanh nghiệp bảo hiểm về vụ tai nạn giao thông đường sắt trong trường hợp người và phương tiện có tham gia bảo hiểm; kiểm tra nồng độ cồn hoặc các chất kích thích của người điều khiển phương tiện liên quan đến vụ tai nạn theo quy định của pháp luật. Trường hợp phương tiện giao thông liên quan đến vụ tai nạn có thể gây ùn tắc giao thông thì phải đánh dấu vị trí của phương tiện, vị trí các dấu vết trên phương tiện và đưa phương tiện vào vị trí thích hợp để bảo vệ.
4. Xác định hiện trường chính, khoanh vùng, bảo vệ hiện trường, bảo vệ tài sản của người bị nạn, hàng hoá trên phương tiện trong vụ tai nạn:
a) Đối với vụ trật bánh đầu máy hoặc toa xe thì hiện trường bảo vệ là vị trí đầu máy hoặc toa xe sau khi tai nạn xảy ra và đoạn đường sắt từ vị trí dừng của đầu máy hoặc toa xe đến vị trí khởi điểm trật bánh và từ khởi điểm trật bánh ngược về phía sau hướng tàu chạy từ 100 mét (m) đến 300 mét (m);
b) Đối với vụ tàu đâm nhau (đâm đầu, đâm đuôi hoặc đâm sườn) trong ga, trong khu gian thì hiện trường bảo vệ là phạm vi khu vực hai phương tiện giao thông đường sắt đâm nhau và vị trí dừng sau khi xảy ra tai nạn;
c) Đối với vụ tàu đâm va phương tiện giao thông đường bộ trong phạm vi khổ giới hạn an toàn giao thông đường sắt thì hiện trường bảo vệ là khu vực xảy ra tai nạn;
d) Đối với vụ chẻ ghi thì hiện trường bảo vệ là phạm vi khu vực ghi xảy ra tai nạn;
đ) Trường hợp trên tàu có chở các hoá chất độc hại, chất độc, chất nổ, chất dễ cháy thì phải nhanh chóng xác định vị trí các toa xe đó ở hiện trường; đồng thời, yêu cầu ngành đường sắt đưa toa xe đó ra ngoài vị trí hiện trường, khu vực dân cư và bảo vệ an toàn (trước khi đưa toa xe ra phải chụp ảnh);
e) Tổ chức bảo vệ hiện trường theo phạm vi đã được xác định.
5. Tổ chức hướng dẫn giao thông đường bộ (nếu có). Trường hợp vụ tai nạn gây ùn tắc giao thông thì phải báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị mình và các đơn vị có liên quan nơi xảy ra vụ tai nạn biện pháp giải quyết.
6. Huy động, trưng dụng phương tiện:
a) Trong trường hợp cấp bách để đưa người bị nạn đi cấp cứu, truy bắt người phạm tội, người gây tai nạn bỏ chạy, cứu nạn, cứu hộ, chữa cháy thì được quyền huy động phương tiện giao thông, phương tiện thông tin, phương tiện khác của cơ quan, tổ chức, cá nhân và người đang điều khiển, sử dụng phương tiện đó. Việc huy động được thực hiện dưới hình thức đề nghị hoặc yêu cầu;
b) Việc trưng dụng phương tiện giao thông, phương tiện thông tin liên lạc, các phương tiện khác của cơ quan, tổ chức, cá nhân được thực hiện theo quyết định của người có thẩm quyền và theo điều kiện, trình tự, thủ tục do Luật Công an nhân dân, Luật Trưng mua, trưng dụng tài sản quy định;
Không được lợi dụng việc điều tra, giải quyết tai nạn giao thông đường sắt để huy động, trưng dụng phương tiện nhằm mục đích cá nhân vụ lợi, xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân; nếu vi phạm thì tùy theo tính chất, mức độ sẽ bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật. Trường hợp gây thiệt hại thì phải bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật.
7. Báo cáo lãnh đạo Công an cấp huyện nơi xảy ra vụ tai nạn để tổ chức điều tra, giải quyết theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự.
8. Tham gia điều tra vụ tai nạn theo yêu cầu của cơ quan điều tra, người tiến hành tố tụng hình sự được phân công điều tra vụ tai nạn. Khi tham gia điều tra, Cảnh sát giao thông thực hiện theo quy định tại các điều 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14 và Điều 15 Thông tư này.
Điều 8. Chuẩn bị khám nghiệm hiện trường
1. Tiếp nhận các công việc của bộ phận bảo vệ hiện trường.
2. Xác định phạm vi hiện trường; vị trí nạn nhân, đồ vật, phương tiện, dấu vết; nhận định hiện trường còn nguyên vẹn hay đã bị xáo trộn.
3. Chọn phương pháp khám nghiệm; xác định chiều hướng khám nghiệm phù hợp; xác định vật chuẩn (điểm làm mốc), mép đường ray chuẩn để định vị vị trí nạn nhân, đồ vật, phương tiện, dấu vết. Vật chuẩn phải có tính bền vững về vị trí, dễ nhận biết, thuận lợi cho việc đo đạc, vẽ sơ đồ hiện trường.
4. Kiểm tra lại các phương tiện, thiết bị, công cụ phục vụ cho công tác khám nghiệm hiện trường.
Điều 9. Tham gia khám nghiệm hiện trường
1. Khám nghiệm phương tiện, tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử có liên quan, dấu vết ở hiện trường.
2. Căn cứ chiều hướng khám nghiệm hoặc vật chuẩn (điểm làm mốc) ở hiện trường để đánh dấu theo số tự nhiên thứ tự vị trí của tất cả các nạn nhân, phương tiện, đồ vật và dấu vết có liên quan đến vụ tai nạn.
Những dấu vết dễ bị thay đổi hoặc biến dạng phải được thu lượm bảo quản ngay như: vết máu, lông, tóc, sợi, xăng, dầu, các dấu vết hóa học hữu cơ khác.
3. Chụp ảnh hiện trường chung, hiện trường từng phần, ảnh nạn nhân, phương tiện, đồ vật, dấu vết có liên quan; quay camera (nếu có). Khi lập bản ảnh, sắp xếp ảnh thì phải có số thứ tự và chú thích ảnh.
4. Đo và vẽ sơ đồ hiện trường vụ tai nạn; khi đo, vẽ sơ đồ hiện trường phải sử dụng thống nhất kí hiệu và đơn vị đo.
5. Thu lượm, bảo quản đồ vật, phương tiện (nếu có), ghi nhận dấu vết và lấy mẫu so sánh theo quy định của pháp luật.
6. Lập biên bản khám nghiệm hiện trường vụ tai nạn giao thông. Biên bản khám nghiệm hiện trường vụ tai nạn giao thông phải thống nhất với sơ đồ hiện trường và bản ảnh hiện trường. Nội dung biên bản phải ghi đầy đủ thời gian, địa điểm, thành phần tham gia khám nghiệm; tình trạng hiện trường trước khi khám nghiệm, điều kiện thời tiết, ánh sáng khi tiến hành khám nghiệm, quá trình khám nghiệm, cụ thể như sau:
a) Mô tả hiện trường như: đoạn đường sắt nơi xảy ra tai nạn (trong ga hay trong khu gian); đặc điểm, hình dạng đoạn đường sắt (bằng phẳng hay dốc, thẳng hay cong, tầm nhìn bị che khuất hay không bị che khuất); hệ thống báo hiệu; chướng ngại vật trên đường sắt; giao cắt với đường bộ và đặc điểm của đường bộ;
b) Ghi nhận việc đánh số thứ tự theo số tự nhiên vị trí của nạn nhân, đồ vật, phương tiện, dấu vết;
c) Ghi nhận việc xác định vật chuẩn (điểm làm mốc) nơi xảy ra tai nạn, chiều hướng khám nghiệm hiện trường;
d) Mô tả vị trí, đặc điểm của nạn nhân, đồ vật, phương tiện, dấu vết trên hiện trường theo số thứ tự;
đ) Ghi cụ thể số lượng đồ vật, phương tiện, dấu vết đã phát hiện, thu lượm và các mẫu so sánh (nếu có);
e) Ghi nhận quá trình vẽ sơ đồ hiện trường và chụp ảnh hiện trường, quay camera (nếu có).
7. Kết thúc khám nghiệm hiện trường:
a) Kiểm tra lại công việc đã thực hiện trong quá trình khám nghiệm;
b) Đánh giá dấu vết và các tài liệu thu thập được tại hiện trường để xác định tính liên quan hoặc cần phải thu thập thêm những dấu vết khác;
c) Thông qua và ký biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường vụ tai nạn giao thông.
Điều 10. Tham gia khám nghiệm đầu máy
1. Ghi số hiệu đầu máy, thu giữ sổ theo dõi đầu máy, giấy tờ của đầu máy và các giấy tờ, chứng chỉ chuyên môn của lái tàu, phụ lái tàu. Việc thu giữ thực hiện theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự.
2. Khám buồng lái:
a) Kiểm tra vị trí, trạng thái của tay điều khiển, tay đảo chiều, tay hãm (hãm lớn, hãm con, hãm tay); chỉ số của các đồng hồ (tốc độ, áp lực thùng gió chính, áp lực ống hãm, áp lực dầu bôi trơn, nhiệt độ nước làm mát). Riêng đồng hồ đo áp suất khí nén cần phải kiểm tra kỹ tem kiểm định;
b) Kiểm tra còi, hệ thống chống ngủ gật, hệ thống chiếu sáng, hệ thống xả cát.
3. Kiểm tra, tạm giữ và niêm phong hộp đen. Trường hợp đầu máy bị đổ, không hoạt động được thì niêm phong buồng lái. Việc tạm giữ, niêm phong hộp đen, buồng lái thực hiện theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự.
4. Khám giá chuyển hướng:
a) Xác định trục bánh đầu tiên trật khỏi đường ray, tập trung khám nghiệm giá chuyển hướng có trục bánh đó. Trường hợp không xác định được trục bánh đầu tiên trật khỏi đường ray thì phải khám nghiệm toàn bộ các trục bánh;
b) Khám đôi bánh xe, đo giang cách bánh xe, đo chiều cao và độ dày gờ lợi bánh xe, xem xét dấu sơn giữa trục và mâm bánh xe, băng đa, mặt lăn nhằm tìm ra các sự cố kỹ thuật; phát hiện dấu vết lạ ở gờ lợi, trục và mặt lăn bánh xe. Trường hợp giá chuyển hướng của đầu máy loại 3 trục bánh trên một giá chuyển phải kiểm tra khoảng cách các trục bánh xe và độ lệch của mâm cối chuyển; xác định độ rơ dọc của Cút-xi-nê ở đầu trục bánh xe;
c) Đo chiều cao hệ lò xo, kiểm tra đai nhíp, thanh treo nhíp, các lá nhíp, bóng hơi.
5. Kiểm tra chiều dài, góc nghiêng của giảm chấn thuỷ lực; vị trí, trạng thái của động cơ điện kéo, hộp bánh răng truyền động giữa động cơ điện kéo và trục bánh xe; chú ý các mùi cháy khét ở động cơ điện kéo và các ổ trục để phát hiện sự cố cháy ở các bộ phận này.
6. Khám nghiệm hệ thống hãm:
a) Kiểm tra hoạt động của máy bơm gió, van an toàn thùng gió chính, hệ thống ống dẫn gió, các van khoá gió, trạng thái của pít-tông nồi hãm;
b) Kiểm tra trang trí hệ thống hãm, xà mang guốc hãm, biên treo, quang treo, thanh giằng hãm, đĩa hãm;
c) Kiểm tra số lượng, đo độ dày guốc hãm, má hãm; xem xét dấu vết, màu sắc trên bề mặt guốc hãm;
d) Kiểm tra hoạt động của hệ thống xả cát; kiểm tra dấu vết trên ba-đờ-xốc.
7. Kiểm tra các bộ phận gá lắp, bệ đỡ, móc nối, cần giật móc nối, đo góc quét, khe hở trên và khoảng cách từ mặt ray đến trung tâm đầu đấm.
8. Lập biên bản khám nghiệm đầu máy phải ghi đầy đủ quá trình khám nghiệm; thông qua và ký biên bản.
Điều 11. Tham gia khám nghiệm toa xe
1. Ghi nhận số hiệu toa xe, trọng lượng, tải trọng, chiều cao, dài, rộng, thời gian và nơi sửa chữa định kỳ (có ghi trên thành xe), hàng hoá vận chuyển trên toa xe (nếu có).
2. Khám nghiệm thùng toa xe: cần xác định tình trạng hàng hoá trên toa xe (số lượng, khối lượng và trạng thái xếp hàng); xác định độ nghiêng thùng xe; tình trạng liên kết, làm việc giữa các supler; nếu là toa xe hàng tự lật thì phải xác định vị trí của tay điều khiển thùng xe và trạng thái chốt định vị tay điều khiển.
3. Khám nghiệm giá chuyển hướng, hệ thống hãm, các bộ phận gá lắp, bệ đỡ, móc nối, cần giật móc nối, đo góc quét, khe hở trên và khoảng cách từ mặt ray đến trung tâm đầu đấm thực hiện theo quy định tại các khoản 4, 6 và 7 Điều 10 Thông tư này.
4. Khám nghiệm vị trí tay gạt R-T của hệ thống hãm; lan can, cầu giao thông đi lại, bậc lên xuống, tay vịn; hàng hoá trên toa xe: loại hàng hoá, số lượng, trọng lượng, cách xếp hàng và gia cố hàng hoá. Trường hợp vụ tàu trôi dốc do mất khả năng hãm thì phải kiểm tra trạng thái các khoá hãm, hệ thống hãm tay ở các toa xe và có thể thử hãm theo quy định của Luật Đường sắt.
5. Khám nghiệm hệ thống điện toa xe khách: Cáp nối giữa các toa xe; vị trí đặt các đường dây điện, khả năng cách điện của đường dây điện; hiện tượng rò rỉ điện áp.
6. Lập biên bản khám nghiệm toa xe phải ghi đầy đủ quá trình khám nghiệm; thông qua và ký biên bản.
Điều 12. Tham gia lấy lời khai của nhân viên đường sắt
1. Tùy từng vụ, việc cụ thể mà lấy lời khai của nhân viên đường sắt có liên quan đến vụ tai nạn, như: Lái tàu, phụ lái tàu, trưởng tàu, nhân viên điều độ trực ban chạy tàu ga, trưởng dồn, gác ghi, nhân viên toa xe, nhân viên gác đường ngang, cầu chung hoặc tuần thủ cầu, đường, hầm; khi khám nghiệm về phương tiện, thiết bị gì thì phải lấy lời khai của người quản lý, sử dụng phương tiện, thiết bị đó.
2. Biên bản ghi lời khai ghi rõ ngày, tháng, năm, địa điểm lập biên bản; họ, tên, chức vụ người lập biên bản; họ, tên, địa chỉ, nghề nghiệp của nhân viên đường sắt, các thao tác của họ trước, trong và sau khi vụ tai nạn xảy ra, diễn biến, nguyên nhân vụ tai nạn. Nếu là vụ tai nạn có liên quan đến thiết bị an toàn của đường sắt, thiết bị thông tin tín hiệu, đầu máy, toa xe thì nội dung lời khai cần tập trung vào quá trình nhận ban, lên ban và các thao tác nghiệp vụ của người sử dụng, quản lý, sửa chữa.
Điều 13. Tham gia lấy lời khai của những người bị nạn hoặc người có liên quan khác trong vụ tai nạn
1. Biên bản ghi lời khai của người bị nạn và người có liên quan khác trong vụ tai nạn phải ghi rõ ngày, tháng, năm, địa điểm lập biên bản; họ, tên, chức vụ người lập biên bản; họ, tên, địa chỉ, nghề nghiệp của những người được lấy lời khai. Nội dung lời khai phải làm rõ về diễn biến, nguyên nhân vụ tai nạn, thương tích trên người do vụ tai nạn gây ra.
2. Trường hợp người bị thương nặng hoặc có thể tử vong phải lấy lời khai ngay; cần đặt câu hỏi ngắn gọn, rõ ràng.
Trường hợp người bị nạn do bị thương nặng không thể nói được phải lập biên bản về việc đó.
Điều 14. Tham gia lấy lời khai của người làm chứng
1. Biên bản ghi lời khai của người làm chứng phải ghi rõ ngày, tháng, năm, địa điểm lập biên bản; họ, tên, chức vụ người lập biên bản; họ, tên, địa chỉ, nghề nghiệp của người làm chứng; giờ, ngày, tháng, năm, địa điểm xảy ra tai nạn, mật độ giao thông; nội dung lời khai phải làm rõ những vấn đề sau đây:
a) Xác định năng lực hành vi của người làm chứng, mối quan hệ của người làm chứng với những người có liên quan trong vụ tai nạn;
b) Vị trí, khoảng cách giữa người làm chứng với nơi xảy ra tai nạn, thời tiết, ánh sáng khi xảy ra vụ tai nạn, do đâu mà họ biết về vụ tai nạn;
c) Hướng chuyển động của các bên liên quan đến vụ tai nạn (người và phương tiện);
d) Phần đường và tốc độ, thao tác xử lý của người điều khiển phương tiện trước, trong và sau khi xảy ra tai nạn;
đ) Phản ứng của những người có liên quan trước khi xảy ra tai nạn;
e) Vị trí của các phương tiện, người, đồ vật sau khi xảy ra tai nạn, vị trí đó có bị thay đổi không; nếu có thay đổi, xê dịch thì ai làm điều đó, vì sao;
g) Trạng thái tâm lý của người gây tai nạn biểu hiện ra bên ngoài (ảnh hưởng của chất kích thích, rượu, bia, tình trạng sứa khỏe);
h) Các yếu tố khác có liên quan đến vụ tai nạn mà họ biết, còn ai biết về vụ tai nạn xảy ra.
2. Khi thấy cần thiết thì đề nghị người tiến hành tố tụng hình sự có thẩm quyền tổ chức cho người làm chứng thực nghiệm để xác định tính khách quan, xác thực về lời khai. Việc thực nghiệm thực hiện theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự.
3. Trường hợp chưa thể lấy lời khai của người làm chứng ngay tại hiện trường thì cán bộ lấy lời khai phải ghi lại thông tin về nơi cư trú, công tác, học tập, số điện thoại liên lạc (nếu có) của người làm chứng, sau đó đến nơi ở, nơi làm việc, học tập của người làm chứng hoặc mời người đó đến trụ sở cơ quan Công an hoặc Ủy ban nhân dân nơi gần nhất để lấy lời khai. Đối với người dưới 18 tuổi, khi lấy lời khai phải có người đại diện hoặc người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người đó tham dự và ký tên vào biên bản.
4. Trường hợp vụ tai nạn có nhiều người làm chứng thì phải đề nghị người tiến hành tố tụng có thẩm quyền chọn lọc để lấy lời khai của người có đủ căn cứ xác thực.
Điều 15. Một số hoạt động thu thập tài liệu khác liên quan đến vụ tai nạn
1. Tạm giữ tài liệu, đồ vật, phương tiện giao thông đường bộ hoặc người điều khiển phương tiện giao thông có liên quan đến vụ tai nạn giao thông đường sắt (nếu có). Việc tạm giữ thực hiện theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự.
2. Khám nghiệm phương tiện giao thông đường bộ liên quan đến vụ tai nạn giao thông đường sắt: việc khám nghiệm phương tiện giao thông đường bộ liên quan đến vụ tai nạn giao thông đường sắt được thực hiện theo quy định tại Thông tư của Bộ trưởng Bộ Công an quy định về điều tra, giải quyết tai nạn giao thông đường bộ của lực lượng Cảnh sát giao thông.
3. Xem xét dấu vết trên thân thể người bị nạn:
a) Xem xét dấu vết trên thân thể người bị nạn phải được ghi nhận tỉ mỉ (mô tả chi tiết trong biên bản, chụp ảnh). Nếu là nạn nhân nữ thì phải cử cán bộ nữ tham gia khám dấu vết thương tích và có người cùng giới chứng kiến;
b) Nếu nạn nhân đi cấp cứu phải thu thập giấy chứng nhận thương tích, hồ sơ bệnh án điều trị chấn thương do vụ tai nạn gây ra hoặc kết quả trưng cầu giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể;
c) Nếu nạn nhân không đi cấp cứu nhưng có đề nghị giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể thì phải thực hiện quy định tại điểm a Khoản này và báo cáo lãnh đạo có thẩm quyền để yêu cầu cơ quan giám định tiến hành giám định theo quy định của pháp luật.
4. Xác định chỉ tiêu kỹ thuật của đường sắt liên quan đến vụ tai nạn:
a) Điểm trật bánh đầu tiên hoặc xảy ra tai nạn đầu tiên;
b) Kiểm tra kỹ thuật đường sắt trong phạm vi 100m đến 300m, bắt đầu từ điểm trật bánh đầu tiên hoặc điểm xảy ra tai nạn ngược với hướng tàu chạy, cứ 3 m đo một điểm ghi số liệu về cự ly, thuỷ bình; trường hợp điểm xảy ra tai nạn ở đường cong phải kiểm tra đường tên để xác định độ cong tròn của đường cong;
c) Kiểm tra các thiết bị, phụ kiện của đường về số lượng, chất lượng: Ray, khe hở mối nối ray, tà vẹt, lập lách, các phụ kiện nối giữ, đá, nền đường và xác định độ liên kết giữa chúng. Nếu giữa các liên kết có khe hở thì phải đo cụ thể khe hở đó, nhất là khe hở giữa ray và tà vẹt, giữa mặt dưới tà vẹt với mặt trên lớp đá ba lát, khe hở giữa đinh crămpông, bu-lông cóc với đế ray; chú ý các dấu vết trên ray, tà vẹt và các phụ kiện;
d) Thu lượm dấu vết: Trường hợp trật bánh đầu máy hoặc toa xe do cán phải chướng ngại vật trên đường sắt (đinh crămpông, đá) hoặc thiết bị của đầu máy, toa xe rơi xuống đường phải khám nghiệm dấu vết trên vật chướng ngại và lập biên bản thu giữ, bảo quản theo quy định; trường hợp tai nạn do trang thiết bị của đầu máy, toa xe rơi trên đường phải xác định vị trí, trạng thái của chúng trước khi xảy ra tai nạn; xác định trạng thái liên kết khi bị rời ra khỏi đầu máy, toa xe (góc, tuột bu - lông; bị biến dạng);
đ) Việc xác định chỉ tiêu kỹ thuật đường sắt liên quan đến vụ tai nạn phải được lập biên bản theo quy định của pháp luật.
5. Xác định chỉ tiêu kỹ thuật của đường ngang liên quan đến vụ tai nạn:
a) Điểm xảy ra tai nạn trên đường ngang;
b) Tầm nhìn, tình trạng đường ngang (mặt lát đường ngang, độ dốc, góc giao cắt, ray hộ bánh), cấp đường ngang, báo hiệu khu vực đường ngang, tổ chức giao thông trên đường ngang (có phòng vệ hay không có phòng vệ, đường ngang hợp pháp hay không hợp pháp);
c) Kiểm tra các dấu vết trên đường sắt: Vết phanh, lết của bánh xe trên mặt ray, vết dầu mỡ, máu (nếu có);
d) Kiểm tra các dấu vết trên đoạn đường bộ giao cắt với đường sắt;
đ) Trường hợp tai nạn xảy ra tại nơi đường ngang có người và hệ thống điều khiển giao thông: Xác định trạng thái của chắn và tín hiệu trên đường bộ lúc xảy ra tai nạn; dấu vết để lại trên cần chắn; ghi nhận vị trí của biển dừng di động màu đỏ, tín hiệu trên đường sắt; ghi nhận sự hoạt động của thiết bị thông tin tín hiệu; xác định vị trí của nhân viên gác chắn trong thời điểm xảy ra tai nạn, các chứng chỉ đào tạo, nhật ký đường ngang;
e) Việc xác định chỉ tiêu kỹ thuật đường ngang liên quan đến vụ tai nạn phải được lập biên bản theo quy định của pháp luật.
6. Xác định chỉ tiêu kỹ thuật của cầu đường sắt, cầu chung liên quan đến vụ tai nạn:
a) Trường hợp tai nạn xảy ra trên cầu do kiến trúc tầng trên của đường sắt thì thực hiện theo quy định tại khoản 4 Điều này;
b) Xác định trạng thái tín hiệu ở hai đầu cầu (nếu có). Đối với cầu chung giữa đường bộ và đường sắt, xác định việc tổ chức giao thông ở hai đầu cầu;
c) Trường hợp tai nạn xảy ra do kết cấu của cầu, cần xác định vị trí xảy ra tai nạn trên cầu: Xác định loại cầu (bê tông, thép), tính chất và các đặc điểm của cầu; đo chiều cao toàn cầu, chiều dài một nhịp, số trụ; ghi nhận các khuyết tật có thể nhận thấy bằng mắt thường;
d) Việc xác định chỉ tiêu kỹ thuật cầu đường sắt, cầu chung liên quan đến vụ tai nạn phải được lập biên bản theo quy định của pháp luật.
7. Xác định chỉ tiêu kỹ thuật của hầm liên quan đến vụ tai nạn:
a) Chỉ tiêu kỹ thuật đường trong hầm thì thực hiện theo quy định tại khoản 4 Điều này;
b) Trường hợp hầm bị rò, rỉ nước gây tai nạn thì xác định các hư hỏng của vỏ hầm dẫn đến tai nạn;
c) Việc xác định chỉ tiêu kỹ thuật hầm liên quan đến vụ tai nạn phải được lập biên bản theo quy định của pháp luật.
8. Xác định chỉ tiêu kỹ thuật của ghi liên quan đến vụ tai nạn:
a) Chiều hướng, biểu chỉ ghi, độ áp sát của lưỡi ghi vào ray cơ bản, trạng thái hoạt động của các thiết bị, phụ kiện ghi;
b) Kiểm tra chất lượng kỹ thuật của lưỡi ghi, chế độ bảo quản, ray hộ bánh, tâm ghi và ray cơ bản; kiểm tra chất lượng vị trí của chốt an toàn, khoá điện khống chế ghi;
c) Xem xét các vật lạ có trong phạm vi hoạt động của ghi, nếu có phải mô tả vị trí, kích thước các dấu vết và thu giữ bảo quản;
d) Kế hoạch đón tiễn, dồn tàu của ga, hoạt động của trực ban và gác ghi: Thu giữ phiếu dồn, thẻ đường, nhật ký chạy tàu ga;
đ) Việc xác định chỉ tiêu kỹ thuật của ghi liên quan đến vụ tai nạn phải được lập biên bản theo quy định của pháp luật.
9. Xác định chỉ tiêu kỹ thuật của cột hiệu, đèn tín hiệu liên quan đến vụ tai nạn:
a) Chiều cao cột tín hiệu, các phụ kiện kèm theo (cánh tín hiệu, màu sơn của cánh tín hiệu, kính màu, cần quả tạ, cánh khuỷu điều khiển biển hiệu), hệ thống tay kéo tín hiệu, bánh xe chuyển hướng;
b) Chiều cao cột đèn tín hiệu, cơ cấu tín hiệu, nguồn sáng;
c) Việc xác định chỉ tiêu kỹ thuật của cột hiệu, đèn tín hiệu liên quan đến vụ tai nạn phải được lập biên bản theo quy định của pháp luật.
10. Dựng lại hiện trường:
a) Trong quá trình điều tra vụ tai nạn, nếu có căn cứ xác định hiện trường bị xáo trộn, hiện trường giả hoặc xét thấy cần thiết cho việc điều tra, giải quyết vụ tai nạn thì tổ chức dựng lại hiện trường. Việc dựng lại hiện trường phải có kế hoạch, quyết định của người có thẩm quyền;
b) Nội dung dựng lại hiện trường cần xác định lại vị trí người bị nạn, đồ vật, phương tiện, dấu vết để lại ở hiện trường, xem xét lại những tình huống, hành vi và những tình tiết khi xảy ra vụ tai nạn; đo đạc và vẽ lại sơ đồ hiện trường; chụp ảnh để làm cơ sở so sánh đối chiếu;
c) Kết thúc dựng lại hiện trường vụ tai nạn phải lập biên bản theo quy định, những người tham gia dựng lại hiện trường ký, ghi rõ họ, tên vào biên bản.
11. Giám định chuyên môn:
Trường hợp cần giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể người bị nạn hoặc giám định dấu vết, giám định chuyên môn kỹ thuật phương tiện, cầu, đường, phà thì phải yêu cầu cơ quan giám định tiến hành giám định theo quy định của pháp luật.
Trường hợp người bị nạn từ chối giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể thì phải lập biên bản, ghi rõ lý do từ chối, có xác nhận của họ hoặc người chứng kiến và thực hiện dẫn giải hoặc thực hiện việc giám định nếu thuộc trường hợp quy định tại Điểm b khoản 2 Điều 127 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Trường hợp phải giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể nhưng người bị nạn bị chết hoặc bị mất tích hoặc trường hợp khác theo quy định của pháp luật có liên quan thì thu thập tài liệu, đồ vật cần thiết và đề nghị cơ quan chức năng thực hiện giám định qua hồ sơ theo quy định tại khoản 2 Điều 2 Thông tư số 20/2014/TT-BYT ngày 12 tháng 6 năm 2014 của Bộ trưởng Bộ Y tế quy định tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần.
Mục 2
GIẢI QUYẾT VỤ TAI NẠN GIAO THÔNG ĐƯỜNG SẮT
Điều 16. Tiếp nhận hồ sơ, tang vật, phương tiện vụ án tai nạn do cơ quan điều tra chuyển giao để xử phạt vi phạm hành chính
Đơn vị Cảnh sát giao thông sau khi tiếp nhận hồ sơ, tang vật, phương tiện vụ án tai nạn giao thông đường sắt do cơ quan điều tra chuyển giao để tiến hành xem xét xử lý vi phạm hành chính thì thực hiện theo quy định tại Điều 63 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 và quy định khác của pháp luật có liên quan.
Điều 17. Kết thúc giải quyết vụ tai nạn
1. Trường hợp vụ tai nạn phát sinh bồi thường thiệt hại thì cán bộ được phân công giải quyết vụ tai nạn mời các bên có liên quan đến trụ sở đơn vị để thông báo lỗi, mức độ thiệt hại, nguyên nhân dẫn đến tai nạn và hướng dẫn các bên tự thỏa thuận giải quyết.
Trường hợp các bên liên quan trong vụ tai nạn không tự thoả thuận được thì hướng dẫn các bên liên hệ với Tòa án có thẩm quyền để giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự.
2. Sau khi hoàn thành việc điều tra, giải quyết vụ tai nạn, đơn vị thụ lý điều tra, giải quyết vụ tai nạn phải hoàn chỉnh hồ sơ kết thúc việc điều tra; thực hiện chế độ thống kê, báo cáo tai nạn giao thông đường sắt theo quy định của Bộ Công an và pháp luật có liên quan; tổ chức đánh giá, rút kinh nghiệm việc điều tra, giải quyết vụ tai nạn giao thông đường sắt.
Điều 18. Mở sổ theo dõi, đăng ký lưu hồ sơ vụ tai nạn giao thông đường sắt
1. Đơn vị thụ lý điều tra, giải quyết tai nạn phải mở Sổ theo dõi vụ tai nạn giao thông.
2. Sổ theo dõi vụ tai nạn giao thông và hồ sơ vụ tai nạn giao thông đường sắt phải được đăng ký lưu giữ, bảo quản, khai thác theo quy định về chế độ công tác hồ sơ nghiệp vụ Cảnh sát của Bộ Công an.
Chương III
TỔ CHỨC THỰC HIỆN
Điều 19. Hiệu lực thi hành
Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 12 năm 2018 và thay thế Thông tư số 06/2013/TT-BCA ngày 29 tháng 01 năm 2013 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định quy trình điều tra, giải quyết tai nạn giao thông đường sắt của Cảnh sát giao thông đường bộ, đường sắt.
Điều 20. Trách nhiệm thi hành
1. Cục trưởng Cục Cảnh sát giao thông có trách nhiệm theo dõi, hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện Thông tư này.
2. Thủ trưởng các đơn vị trực thuộc Bộ Công an, Giám đốc Công an các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm thi hành Thông tư này.
Trong quá trình thực hiện, nếu có khó khăn, vướng mắc, Công an các đơn vị, địa phương báo cáo về Bộ Công an (qua Cục Cảnh sát giao thông) để kịp thời hướng dẫn./.