Lên đầu trang

Quy định về cưỡng chế thi hành án và trách nhiệm bồi thường thiệt hại

Vụ án giải quyết tranh chấp về thuê quyền sử dụng đất đã được 02 cấp xét xử sơ thẩm và phúc thẩm. Tuy nhiên, gia đình tôi thấy không thỏa đáng đã làm đơn để nghị kháng nghị giám đốc thẩm lên Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Ngày 19/04/2018, Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã thụ lý hồ sơ. Trong thời gian Viện kiểm sát nhân dân tối cao đang thụ lý chưa hoàn trả hồ sơ thì bất ngờ Chấp hành viên Chi cục thi hành án dân sự tiến hành cưỡng chế tháo dỡ toàn bộ công trình có liên quan trong vụ án.
Hỏi:
1. Việc Chấp hành viên Chi cục thi hành án dân sự tiến hành cưỡng chế thi hành án có đúng quy định pháp luật không?
2. Pháp luật quy định về cưỡng chế thi hành án như thế nào?
3. Nếu xảy ra thiệt hại thì cơ quan nào hay cá nhân nào chịu trách nhiệm bồi thường?

Gửi bởi: Lê Minh Hiếu

Trả lời có tính chất tham khảo

Trường hợp bạn hỏi chúng tôi không có hồ sơ thi hành án vụ việc của bạn, không rõ nội dung vụ việc nên chúng tôi trả lời bạn như sau:
1. Việc Chấp hành viên Chi cục thi hành án dân sự cưỡng chế thi hành án:
Theo khoản 1 Điều 2 và khoản 2 Điều 7 Luật thi hành án dân sự quy định Bản án, quyết định của Tòa án cấp phúc thẩm được thi hành. Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định hoãn thi hành án khi nhận được yêu cầu hoãn thi hành án của người có thẩm quyền kháng nghị ít nhất 24 giờ trước thời điểm cưỡng chế thi hành án đã được ấn định trong quyết định cưỡng chế. Trường hợp cơ quan thi hành án nhận được yêu cầu hoãn thi hành án của người có thẩm quyền kháng nghị ít hơn 24 giờ trước thời điểm cưỡng chế đã được ấn định trong quyết định cưỡng chế thi hành án thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự có quyền quyết định hoãn thi hành án khi xét thấy cần thiết.
Trường hợp vụ việc đã được thi hành một phần hoặc đã được thi hành xong thì cơ quan thi hành án dân sự phải có văn bản thông báo ngay cho người yêu cầu hoãn thi hành án.
Người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm đối với bản án, quyết định của Tòa án chỉ được yêu cầu hoãn thi hành án một lần để xem xét kháng nghị nhằm tránh hậu quả không thể khắc phục được.
Thời hạn hoãn thi hành án theo yêu cầu của người có thẩm quyền kháng nghị bản án, quyết định không quá 03 tháng, kể từ ngày ra văn bản yêu cầu hoãn thi hành án; trong thời gian hoãn thi hành án thì người phải thi hành án không phải chịu lãi suất chậm thi hành án.
Theo nội dung bạn cung cấp chúng tôi được hiểu cơ quan Thi hành án đang thi hành bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật. Viện kiểm sát nhân dân tối cao thụ lý hồ sơ của bạn nhưng không có yêu cầu hoãn thi hành án đối với bản án mà Chấp hành viên đang tổ chức thi hành. Do đó, Chấp hành viên Chi cục Thi hành án dân sự tiến hành cưỡng chế có đúng quy định pháp luật.
2. Quy định về cưỡng chế thi hành án
Điều 46 Luật Thi hành án dân sự quy định cưỡng chế thi hành án như sau:
1. Hết thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 45 của Luật này, người phải thi hành án có điều kiện thi hành án mà không tự nguyện thi hành án thì bị cưỡng chế.
2. Không tổ chức cưỡng chế thi hành án trong thời gian từ 22 giờ đến 06 giờ sáng ngày hôm sau, các ngày nghỉ, ngày lễ theo quy định của pháp luật và các trường hợp đặc biệt khác do Chính phủ quy định.
Theo khoản 1 Điều 45 Luật Thi hành án dân sự quy định thời hạn tự nguyện thi hành án như sau:
"1. Thời hạn tự nguyện thi hành án là 10 ngày, kể từ ngày người phải thi hành án nhận được quyết định thi hành án hoặc được thông báo hợp lệ quyết định thi hành án".
Quy định trình tự, thủ tục cưỡng chế thi hành án được thực hiện Điều 70 đến điều 121 Luật thi hành án dân sự, trong đó, quy định chung về cưỡng chế thi hành án được thực hiện Điều 70 đến Điều 75; quy định cưỡng chế trả nhà, giao nhà được thực hiện theo Điều 115; quy định về cưỡng chế chuyển giao quyền sử dụng đất được thực hiện theo Điều 117.
Ngoài ra, Điều 13 Nghị định 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự quy định về áp dụng biện pháp bảo đảm và cưỡng chế thi hành án như sau:
"1. Chấp hành viên căn cứ vào nội dung bản án, quyết định; quyết định thi hành án; tính chất, mức độ, nghĩa vụ thi hành án; điều kiện của người phải thi hành án; yêu cầu bằng văn bản của đương sự và tình hình thực tế của địa phương để lựa chọn việc áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế thi hành án thích hợp. Chấp hành viên áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế thi hành án trong trường hợp thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định tại Điều 130 Luật Thi hành án dân sự.
Việc áp dụng biện pháp bảo đảm, cưỡng chế thi hành án phải tương ứng với nghĩa vụ của người phải thi hành án và các chi phí cần thiết, trừ trường hợp quy định tại Khoản 4 Điều 24 Nghị định này. Trường hợp người phải thi hành án chỉ có một tài sản duy nhất lớn hơn nhiều lần so với nghĩa vụ phải thi hành án mà tài sản đó không thể phân chia được hoặc việc phân chia làm giảm đáng kể giá trị của tài sản thì Chấp hành viên vẫn có quyền áp dụng biện pháp bảo đảm, cưỡng chế để thi hành án.
2. Ngoài những trường hợp không tổ chức cưỡng chế thi hành án do Luật Thi hành án dân sự quy định, cơ quan thi hành án dân sự không tổ chức cưỡng chế thi hành án có huy động lực lượng trong thời gian 15 ngày trước và sau tết Nguyên đán; các ngày truyền thống đối với các đối tượng chính sách, nếu họ là người phải thi hành án; các trường hợp đặc biệt khác ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội, phong tục, tập quán tại địa phương.
3. Trong trường hợp cần thiết, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cùng cấp, Thủ trưởng cơ quan thi hành án cấp quân khu báo cáo Tư lệnh quân khu và tương đương ít nhất là 05 ngày làm việc trước khi tổ chức cưỡng chế thi hành các vụ án lớn, phức tạp, có ảnh hưởng đến an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội tại địa bàn theo quy định tại Khoản 1 Điều 172, Khoản 2 Điều 173 và Khoản 2 Điều 174 của Luật Thi hành án dân sự.
4. Tài sản đã được giao trên thực tế cho người được nhận tài sản và người đó đã ký nhận vào biên bản giao, nhận tài sản nhưng sau đó bị chiếm lại thì cơ quan thi hành án dân sự không có trách nhiệm giao lại tài sản cho người được nhận tài sản.
Người đã nhận tài sản có quyền đề nghị Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có tài sản yêu cầu người chiếm lại tài sản trả lại tài sản cho họ. Nếu người chiếm lại tài sản không trả lại thì người đã nhận tài sản có quyền đề nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật".
3. Nếu xảy ra thiệt hại thì cơ quan nào hay cá nhân nào chịu trách nhiệm bồi thường?
Trường hợp có thiệt hại xảy ra do lỗi của cơ quan nào thì cơ quan đó chịu trách nhiệm giải quyết. Việc giải quyết bồi thường được thực hiện theo quy định của Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.
 

Trả lời bởi: ;#Nguyễn Thị Thu Hằng - Tổng cục Thi hành án dân sự;#