Lên đầu trang

Tố cáo lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Ngày 11/5/2018, tôi có cho cô làm cùng công ty mượn 200 triệu đồng, hẹn ngày 11/6/2018 trả, tuy nhiên, đến ngày trả cô ấy bỏ trốn khỏi nơi cư trú và mất liên lạc. Xin hỏi, hành vi của cô gái kia có phạm tội không?

Gửi bởi: Phạm Đức Danh

Trả lời có tính chất tham khảo

Điều 175 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) bắt đầu có hiệu lực kể từ ngày 1/1/2018 có quy định về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, như sau:
“1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;
b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”
Theo đó, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là hành vi vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó, hoặc sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.
Hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác sau khi đã thực hiện các giao dịch dân sự ngay thẳng cấu thành tội phạm khi có một trong các dấu hiệu sau đây:
- Dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đã nhận. Tài sản bị chiếm đoạt có thể là một phần hay toàn bộ; hành vi gian dối có thể là nói dối rằng bị mất tài sản, đánh tráo tài sản, rút bớt tài sản.
- Đến thời hạn trả lại tài sản theo thoả thuận, mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả lại tài sản.
- Sử dụng tài sản đã vay, mượn, thuê hoặc nhận được của người khác vào mục đích bất hợp pháp dẫn tới không có khả năng trả nợ. Hành vi sử dụng tài sản vào mục đích bất hợp pháp là hành vi sử dụng tài sản không đúng cam kết, thỏa thuận. Ví dụ như mượn xe ô tô, xe máy sau đó đem bán để đánh bạc và do thua bạc nên không có khả năng trả lại tài sản.
Như vậy, trong trường hợp trên của bạn, cô gái mà bạn cho vay 200.000.000đ trên cơ sở hợp đồng vay và đến hẹn đã có dấu hiệu bỏ trốn nhằm chiếm đoạt khoản tiền vay nói trên có thể cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm nhằm chiếm đoạt tài sản và sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 175 năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Chú ý: nếu người phạm tội không dùng thủ đoạn gian dối mà sau khi đã nhận tài sản một cách hợp pháp rồi bỏ trốn với ý thức không thanh toán, không trả lại tài sản cho chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản (ý thức chiếm đoạt tài sản) thì đó là hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Khi đánh giá hành vi bỏ trốn của người phạm tội phải xem xét một cách khách quan, toàn diện, nếu người phạm tội bỏ trốn hoặc tránh mặt chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản vì nguyên nhân khác thì không coi là bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản.
 

Trả lời bởi: ;#Ngô Thanh Xuyên - Viện Khoa học pháp lý;#