Lên đầu trang

Xác định mức lãi suất cho vay

Tôi đang cần tiền gấp nên đã vay 20.000.000 đồng của A trong thời hạn 02 năm. Trong suốt 02 năm, mỗi tháng tôi phải trả 1.600.000 đồng bao gồm tiền lãi hàng tháng và số tiền gốc phải trả hàng tháng. Xin hỏi, mức lãi suất trên có phù hợp với quy định của pháp luật không? A có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự đối với tội cho vay lãi nặng không?

Gửi bởi: Khánh Lương

Trả lời có tính chất tham khảo

1. Tính lãi suất đã vay
Theo thông tin bạn cung cấp, bạn vay tiền của A và mỗi tháng bạn phải trả một khoản tiền cố định. Như vậy, bạn và A đã áp dụng lãi suất tính theo dư nợ ban đầu. Lãi suất tính theo dư nợ ban đầu là cách tính mà khoản tiền lãi người vay phải trả là cố định và không thay đổi tại tất cả các kỳ thanh toán, được tính dựa trên số tiền nợ gốc mà người vay đã vay ban đầu.
Với cách tính này, công thức tính số tiền phải trả hàng tháng, số tiền lãi hàng tháng, số tiền gốc phải trả hàng tháng được tính như sau:
(1) Số tiền phải trả hàng tháng = Số tiền lãi hàng tháng + số tiền gốc phải trả hàng tháng;
(2) Số tiền lãi hàng tháng = Dư nợ gốc*lãi suất/12 (tháng);
(3) Số tiền gốc phải trả hàng tháng = Số tiền vay/số tháng vay.
Bạn vay 20.000.000 đồng của A trong thời hạn 02 năm (24 tháng), vậy, căn cứ vào công thức (3) thì số tiền gốc bạn phải trả hàng tháng là 20.000.000đ/24= 833.333đ.
Căn cứ vào công thức (1) thì số tiền lãi hàng tháng bạn phải trả là 1.600.000đ - 833.333đ = 766.677đ.
Căn cứ vào công thức (2) thì lãi suất bạn đã vay = số tiền lãi hàng tháng*12/dư nợ gốc = 766.677đ*12/20.000.000 = 46%/năm.
Như vậy, với trường hợp nêu trên của bạn, bạn đã vay của A 20.000.000đồng trong thời hạn 02 năm với lãi suất vay là 46%/năm.
2. Một số quy định pháp luật có liên quan
Khoản 1 Điều 468 BLDS năm 2015 quy định:
1. Lãi suất vay do các bên thỏa thuận.
Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác. Căn cứ tình hình thực tế và theo đề xuất của Chính phủ, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định điều chỉnh mức lãi suất nói trên và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất.
Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực”.
Như vậy, theo quy định nêu trên, các bên có thể thỏa thuận lãi suất vay nhưng lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác.
Đối chiếu với trường hợp của bạn cho thấy lãi suất 46%/năm mà bạn vay của A đã vượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại khoản 1 Điều 468 BLDS năm 2015.
Liên quan đến tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự, Điều 201 Bộ luật Hình sự 2015 quy định:
“1. Người nào trong giao dịch dân sự mà cho vay với lãi suất gấp 05 lần trở lên của mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự, thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.
2. Phạm tội mà thu lợi bất chính 100.000.000 đồng trở lên thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
 3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”.
Theo quy định trên, chỉ xem xét để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự khi có hành vi cho vay với lãi suất gấp 05 lần trở lên của mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự. A cho bạn vay với mức lãi suất 46%/năm là chưa đạt lãi suất gấp 05 lần của mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự, do đó, A không bị xem xét để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với tội cho vay lãi nặng theo quy định tại Điều 201 Bộ luật Hình sự 2015.
 

 

Trả lời bởi: ;#Đặng Thị Lưu - Cục QLXLVPHC&TDTHPL;#