Lên đầu trang

Sử dụng trái phép lòng đường, hè phố để đặt, treo biển hiệu, biển quảng cáo

Theo quy định tại điểm b, khoản 1 Điều 38 của Luật xử lý vi phạm hành chính 2012, Chủ tịch UBND cấp xã phạt tiền đến 10% mức tiền tối đa đối với lĩnh vực tương ứng quy định tại điều 24 của Luật xử lý vi phạm hành chính 2012 nhưng không quá 5.000.000đ. Theo quy định của điểm b khoản 4 Điều 12 Nghị định 46/2016/NĐ-CP ngày 26/5/2016 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt, hành vi sử dụng trái phép lòng đường, hè phố để đặt, treo biển hiệu, biển quảng cáo thì phạt từ 2.000.000đ đến 3.000.000đ đối với cá nhân.
Trong quá trình làm nhiệm vụ chấn chỉnh vỉa hè thì UBND phường phát hiện hành vi vi phạm sử dụng trái phép hè phố để đặt biển hiệu quảng cáo. Cho em hỏi, khi xử phạt vi phạm hành chính thì:
1. UBND phường áp dụng việc quyết định xử phạt tiền không lập biên bản theo Điều 56 Luật xử lý vi phạm hành chính được không?
2. UBND phường áp dụng mức xử phạt 10% mức phạt tối đa theo quy định điều 38 của Luật XLVPHC tức là 10% của 2.000.000đ quy định tại Điều 12 Nghị định 46/2016/NĐ-CP, cụ thể ở đây UBND phường xử phạt 200.000đ đối với hành vi sử dụng trái phép lòng đường, hè phố để đặt, treo biển hiệu, biển quảng cáo được không?
3. Tại khoản 4 Điều 24 của Luật xử lý vi phạm hành chính 2012 có quy định: “Mức phạt tiền tối đa đối với lĩnh vực mới chưa được quy định tại khoản 1 điều này do Chính phủ quy định sau khi được sự đồng ý của Ủy ban Thường vụ Quốc hội”. Như vậy, quy định này có nghĩa là gì?
4. Tại điểm b khoản 4 Điều 12 của Nghị định 46/2016/NĐ-CP quy định nếu các cá nhân sử dụng trái phép lòng đường, hè phố để đặt, treo biển hiệu, biển quảng cáo thì phạt từ 2.000.000đ đến 3.000.000đ. Vậy, 3.000.000đ có phải mức phạt tối đa của Chủ tịch UBND phường mà Quốc hội đã tính 10% không?
 

Gửi bởi: Hoàng Phước Đông

Trả lời có tính chất tham khảo

1. Xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi sử dụng trái phép hè phố để đặt, treo biển hiệu, biển quảng cáo
Khoản 4 và khoản 9 Điều 12 Nghị định 46/2016/NĐ-CP ngày 26/5/2016 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt (sau đây gọi là Nghị định 46/2016/NĐ-CP) quy định như sau:
“4. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với cá nhân, từ 4.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng đối với tổ chức thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:
…………
b) Sử dụng trái phép lòng đường đô thị, hè phố để: Họp chợ; kinh doanh dịch vụ ăn uống; bày, bán hàng hóa; sửa chữa phương tiện, máy móc, thiết bị; rửa xe; đặt, treo biển hiệu, biển quảng cáo; xây, đặt bục bệ; làm mái che hoặc thực hiện các hoạt động khác gây cản trở giao thông, trừ các hành vi vi phạm quy định tại Điểm d, Điểm đ, Điểm e, Điểm g Khoản 5; Khoản 6; Điểm a Khoản 7 Điều này;
……
9. Ngoài việc bị áp dụng hình thức xử phạt, cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi quy định tại Khoản 1, Khoản 2, Khoản 3, Khoản 4, Khoản 5, Khoản 6, Khoản 7, Khoản 8 Điều này còn bị áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả sau đây: Buộc phải đỡ bỏ các công trình xây dựng trái phép, biển quảng cáo, di dời cây trồng trái phép, thu dọn rác, vật tư, vật liệu, chất phế thải, hàng hóa, máy móc, thiết bị, các loại vật dụng và khôi phục lại tình trạng ban đầu đã bị thay đổi do vi phạm hành chính gây ra”.
Như vậy, căn cứ vào quy định nêu trên, hành vi sử dụng trái phép hè phố để đặt biển hiệu, quảng cáo là hành vi vi phạm hành chính và sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật. Cụ thể, cá nhân thực hiện hành vi sử dụng trái phép hè phố để đặt biển hiệu, quảng cáo sẽ bị phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng, đồng thời, bị áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả sau đây: Buộc phải dỡ bỏ biển quảng cáo, thu dọn rác, vật tư, vật liệu, chất phế thải, hàng hóa, máy móc, thiết bị, các loại vật dụng và khôi phục lại tình trạng ban đầu đã bị thay đổi do vi phạm hành chính gây ra.
2. Áp dụng xử phạt vi phạm hành chính không lập biên bản được không?
Khoản 1 Điều 56 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định: “Xử phạt vi phạm hành chính không lập biên bản được áp dụng trong trường hợp xử phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền đến 250.000 đồng đối với cá nhân, 500.000 đồng đối với tổ chức và người có thẩm quyền xử phạt phải ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính tại chỗ”. Như vậy, theo quy định này, việc xử phạt vi phạm hành chính không lập biên bản chỉ được áp dụng trong trường hợp xử phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền đến 250.000 đồng đối với cá nhân, 500.000 đồng đối với tổ chức. Đối với các trường hợp không thuộc quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 thì không áp dụng xử phạt vi phạm hành chính không lập biên bản.
Đối chiếu quy định trên với trưởng hợp xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép hè phố để đặt biển hiệu, quảng cáo, áp dụng hình thức phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng và áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả đã được nêu tại mục 1 cho thấy, trường hợp xử phạt này không thuộc  trường hợp xử phạt vi phạm hành chính không lập biên bản quy định tại khoản 1 Điều 56 xử lý vi phạm hành chính năm 2012. Do đó, khi xử phạt đối với hành vi sử dụng trái phép hè phố để đặt biển hiệu, quảng cáo, người có thẩm quyền xử phạt không áp dụng xử phạt vi phạm hành chính không lập biên bản.
3. Chủ tịch UBND phường xử phạt 200.000đ đối với hành vi sử dụng trái phép hè phố để đặt biển hiệu, quảng cáo được không?
Khoản 1 Điều 38 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định:
1. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã có quyền:
a) Phạt cảnh cáo;
b) Phạt tiền đến 10% mức tiền phạt tối đa đối với lĩnh vực tương ứng quy định tại Điều 24 của Luật này nhưng không quá 5.000.000 đồng;
c) Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính có giá trị không vượt quá mức xử phạt tiền được quy định tại điểm b khoản này;
d) Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại các điểm a, b, c và đ khoản 1 Điều 28 của Luật này”.
Bên cạnh đó, điểm b khoản 1 Điều 24 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định:
1. Mức phạt tiền tối đa trong các lĩnh vực quản lý nhà nước đối với cá nhân được quy định như sau:
…….
b) Phạt tiền đến 40.000.000 đồng: an ninh trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; thi hành án dân sự; phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã; giao thông đường bộ; giao dịch điện tử; bưu chính;…”.
Khoản 1 Điều 71 Nghị định 46/2016/NĐ-CP quy định:
1. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có quyền:
a) Phạt cảnh cáo;
b) Phạt tiền đến 4.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm trong lĩnh vực giao thông đường bộ và 5.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm trong lĩnh vực giao thông đường sắt;
c) Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính có giá trị không vượt quá mức xử phạt tiền được quy định tại Điểm b Khoản này;
d) Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại các Điểm a, b và c Khoản 1 Điều 4 Nghị định này.
Như vậy, căn cứ vào các quy định nêu trên, đối với lĩnh vực giao thông đường bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có quyền phạt tiền đến 4.000.000 đồng; tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính có giá trị không vượt quá 4.000.000 đồng và buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu đã bị thay đổi do vi phạm hành chính gây ra; buộc tháo dỡ công trình, phần công trình xây dựng không có giấy phép hoặc xây dựng không đúng với giấy phép; buộc thực hiện biện pháp để khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường do vi phạm hành chính gây ra.
Đối chiếu các quy định trên với trường hợp đã nêu, đối với hành vi sử dụng trái phép hè phố để đặt biển hiệu, quảng cáo, Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường có thẩm quyền xử phạt đối với hành vi này. Như đã phân tích tại mục 1, Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường sẽ phải xử phạt cá nhân thực hiện hành vi sử dụng trái phép hè phố để đặt biển hiệu, quảng cáo từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng, đồng thời, áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc phải dỡ bỏ biển quảng cáo, thu dọn rác, vật tư, vật liệu, chất phế thải, hàng hóa, máy móc, thiết bị, các loại vật dụng và khôi phục lại tình trạng ban đầu đã bị thay đổi do vi phạm hành chính gây ra. Việc Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường xử phạt 200.000 đồng đối với hành vi sử dụng trái phép lòng đường, hè phố để đặt, treo biển hiệu, biển quảng cáo được coi là áp dụng hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả không đúng đối với hành vi vi phạm hành chính, điều này vi phạm hành vi nghiêm cấm được quy định tại khoản 6 Điều 12 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012.
4. Về mức phạt tiền tối đa đối với lĩnh vực mới chưa được quy định
Khoản 4 Điều 24 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định: “Mức phạt tiền tối đa đối với lĩnh vực mới chưa được quy định tại khoản 1 Điều này do Chính phủ quy định sau khi được sự đồng ý của Ủy ban thường vụ Quốc hội”. Như vậy, theo quy định này, đối với lĩnh vực mới chưa được quy định tại khoản 1 Điều 24 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 thì Chính phủ chỉ được quy định mức phạt tiền tối đa sau khi được sự đồng ý của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
5. Mức phạt tiền tối đa của Chủ tịch UBND phường đối với hành vi vi phạm trong lĩnh vực giao thông đường bộ
Như đã phân tích tại mục 3, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã có quyền phạt tiền đến 10% mức tiền phạt tối đa đối với lĩnh vực giao thông đường bộ quy định tại Điều 24 của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012. Điều này có nghĩa là, đối với lĩnh vực giao thông đường bộ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã có quyền phạt tiền đến 4.000.000 đồng.
Lưu ý: Ngày 30 tháng 12 năm 2019, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 100/2019/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt để thay thế Nghị định số 46/2016/NĐ-CP ngày 26 tháng 5 năm 2016 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt. Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2020. Do vậy, bạn cần đối chiếu thời điểm thực hiện hành vi vi phạm với thời điểm có hiệu lực của các văn bản nêu trên để áp dụng đúng văn bản.
 

Trả lời bởi: ;#Đặng Thị Lưu - Cục QLXLVPHC&TDTHPL;#