• Hiệu lực: Còn hiệu lực
  • Ngày có hiệu lực: 01/01/2026
Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Địa chất và khoáng sản
Số ký hiệu 147/2025/QH15 Ngày ban hành 11/12/2025
Loại văn bản Luật Ngày có hiệu lực 01/01/2026
Nguồn thu thập Ngày đăng công báo ...
Cơ quan ban hành/ Chức danh / Người ký Quốc hội Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn
Phạm vi
  • Toàn quốc

Thông tin áp dụng

1. Tổ chức, cá nhân đã nộp hồ sơ và được cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiếp nhận để giải quyết theo thủ tục hành chính về địa chất, khoáng sản trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành mà chưa có kết quả giải quyết thì được quyền lựa chọn áp dụng trình tự, thủ tục, thẩm quyền theo quy định của pháp luật tại thời điểm tiếp nhận hồ sơ hoặc theo quy định của Luật này. 2. Kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành, việc tiếp nhận, giải quyết hồ sơ mới được thực hiện theo thẩm quyền quy định tại Luật này. Trường hợp tổ chức, cá nhân đã nộp hồ sơ và được cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiếp nhận trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành nhưng có thay đổi về thẩm quyền quản lý nhà nước thì cơ quan có thẩm quyền giải quyết thủ tục hành chính đã tiếp nhận hồ sơ tiếp tục giải quyết hồ sơ cho đến khi hoàn thành, trừ trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này. 3. Tổ chức, cá nhân được cấp giấy phép, quyết định trong hoạt động khoáng sản trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành, bao gồm cả giấy phép khai thác khoáng sản được cấp theo quy định của Nghị quyết số 66.4/2025/NQ-CP thì được thực hiện như sau: a) Tiếp tục thực hiện đến hết thời hạn quy định trong giấy phép, quyết định trong hoạt động khoáng sản, trừ trường hợp quy định tại điểm b và điểm c khoản này; b) Trường hợp gia hạn, cấp lại, điều chỉnh, trả lại giấy phép, quyết định trong hoạt động khoáng sản; chuyển nhượng quyền thăm dò, khai thác khoáng sản; phê duyệt đề án đóng cửa mỏ khoáng sản, chấp thuận phương án đóng cửa mỏ khoáng sản; đóng cửa mỏ khoáng sản thì được thực hiện theo quy định của Luật Địa chất và khoáng sản số 54/2024/QH15 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật này, trừ khoản 7 và khoản 8 Điều này; c) Đối với giấy phép khai thác khoáng sản được cấp trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành có nội dung không phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 56 của Luật Địa chất và khoáng sản số 54/2024/QH15, trong thời hạn 36 tháng kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm thực hiện thủ tục cấp đổi giấy phép khai thác khoáng sản theo quy định của Luật Địa chất và khoáng sản số 54/2024/QH15. Sau thời hạn nêu trên, tổ chức, cá nhân khai thác khoáng sản phải tạm dừng khai thác cho đến khi được cơ quan nhà nước hoặc người có thẩm quyền cấp đổi giấy phép khai thác khoáng sản. 4. Đối với hành vi vi phạm đến mức phải thu hồi giấy phép thăm dò khoáng sản, giấy phép khai thác khoáng sản, giấy phép khai thác tận thu khoáng sản theo quy định của Luật Khoáng sản số 60/2010/QH12 mà đang được cơ quan có thẩm quyền xem xét giải quyết thì được áp dụng quy định của Luật Địa chất và khoáng sản số 54/2024/QH15 để giải quyết, trừ trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 52, điểm a khoản 1 Điều 66 và điểm a khoản 1 Điều 71 của Luật Địa chất và khoáng sản số 54/2024/QH15. 5. Đối với giấy phép thăm dò, khai thác khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường được cấp trước ngày 01 tháng 7 năm 2025 thuộc thẩm quyền cấp phép của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh mà không phù hợp với tiêu chí không đấu giá quyền khai thác khoáng sản thì được tiếp tục cho phép thực hiện thăm dò, công nhận báo cáo kết quả thăm dò, khai thác khoáng sản nếu đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau đây: a) Khoáng sản khai thác được cung cấp cho công trình, dự án quy định tại các điểm a, b, c, d và đ khoản 1a Điều 55 của Luật Địa chất và khoáng sản số 54/2024/QH15 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật này; b) Phù hợp với quy hoạch tỉnh; c) Tổ chức, cá nhân nếu có vi phạm vẫn phải được xem xét, xử lý theo quy định của pháp luật. 6. Đối với khu vực khoáng sản đã được xác định là nguồn nguyên liệu phục vụ dự án đầu tư chế biến hoặc sử dụng khoáng sản đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấp thuận hoặc quyết định chủ trương đầu tư theo quy định của pháp luật về đầu tư, đầu tư công, đầu tư theo phương thức đối tác công tư trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành thì việc cấp giấy phép thăm dò khoáng sản, giấy phép khai thác khoáng sản được thực hiện theo quy định của Luật Địa chất và khoáng sản số 54/2024/QH15 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật này và không phải đấu giá quyền khai thác khoáng sản. 7. Đối với giấy phép khai thác khoáng sản được cấp trước ngày Luật Địa chất và khoáng sản số 54/2024/QH15 có hiệu lực thi hành, việc cấp lại giấy phép khai thác khoáng sản mà không phải đấu giá quyền khai thác khoáng sản cho cùng tổ chức, cá nhân khi đáp ứng các điều kiện và được thực hiện như sau: a) Giấy phép khai thác khoáng sản đã cấp phù hợp với quy hoạch khoáng sản, quy hoạch tỉnh tại thời điểm cấp giấy phép và chấm dứt hiệu lực sau ngày 01 tháng 7 năm 2011; b) Khu vực khai thác khoáng sản còn trừ lượng tính đến thời điểm đề nghị cấp lại giấy phép khai thác và khu vực khoáng sản chưa được cấp giấy phép cho tổ chức, cá nhân khác hoặc chưa được đưa vào kế hoạch đấu giá quyền khai thác khoáng sản; c) Tổ chức, cá nhân đã hoàn thành các nghĩa vụ tài chính đối với giấy phép khai thác khoáng sản đã được cấp trước đó và không vi phạm các nghĩa vụ theo quy định của pháp luật về khoáng sản đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự; d) Tổ chức, cá nhân phải đáp ứng các điều kiện theo quy định của Luật Địa chất và khoáng sản số 54/2024/QH15 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật này; đ) Thời hạn của giấy phép khai thác khoáng sản thực hiện theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 56 của Luật Địa chất và khoáng sản số 54/2024/QH15 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật này và không quá 10 năm đối với giấy phép khai thác cát, sỏi lòng sông, lòng hồ; e) Hồ sơ, trình tự, thủ tục, thẩm quyền cấp lại giấy phép khai thác khoáng sản được thực hiện theo quy định của Luật Địa chất và khoáng sản số 54/2024/QH15 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật này. 8. Tổ chức, cá nhân đã nộp hồ sơ đề nghị gia hạn giấy phép khai thác cát, sỏi lòng sông, lòng hồ trước thời điểm Luật Địa chất và khoáng sản số 54/2024/QH15 có hiệu lực thi hành và được cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền tiếp nhận nhưng chưa có kết quả giải quyết thủ tục hành chính, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét gia hạn giấy phép khai thác khoáng sản khi hồ sơ đề nghị gia hạn giấy phép khai thác đủ điều kiện gia hạn theo quy định của pháp luật tại thời điểm nộp hồ sơ. Thời gian gia hạn không vượt quá 10 năm. Trình tự, thủ tục, thẩm quyền gia hạn được thực hiện theo quy định của Luật Địa chất và khoáng sản số 54/2024/QH15 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật này. 9. Đối với khoáng sản đã khai thác, thu hồi trong phạm vi ranh giới, diện tích khu vực thực hiện dự án đầu tư khai thác khoáng sản theo giấy phép khai thác khoáng sản và đang được lưu giữ hoặc tập kết tại các kho chứa, bãi chứa nhưng chưa được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép thu hồi, sử dụng thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, cấp giấy xác nhận đăng ký thu hồi khoáng sản theo quy định của Luật Địa chất và khoáng sản số 54/2024/QH15 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật này. Tổ chức, cá nhân đăng ký thu hồi khoáng sản phải đáp ứng các điều kiện và không vi phạm các nghĩa vụ theo quy định của pháp luật về khoáng sản đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự. 10. Trường hợp trúng đấu giá quyền khai thác khoáng sản tại khu vực chưa có kết quả thăm dò khoáng sản và đã được cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền phê duyệt trữ lượng khoáng sản trước ngày 01 tháng 7 năm 2025 thì thời hạn ưu tiên nộp hồ sơ đề nghị cấp giấy phép khai thác khoáng sản được tính từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành.
Tình trạng hiệu lực: Còn hiệu lực
 
This div, which you should delete, represents the content area that your Page Layouts and pages will fill. Design your Master Page around this content placeholder.