THÔNG TƯ LIÊN TỊCH
Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư liên tịch số 10/2018/TTLT-BTP-BCA-BQP-BTC-TANDTC-VKSNDTC ngày 29 tháng 6 năm 2018 quy định về phối hợp thực hiện trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng
Căn cứ Luật Trợ giúp pháp lý số 11/2017/QH14;
Căn cứ Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 02/2021/QH15, Luật số 34/2024/QH15, Luật số 59/2024/QH15 và Luật số 99/2025/QH15;
Căn cứ Bộ luật Tố tụng dân sự số 92/2015/QH13 được sửa đổi, bổ sung bởi Bộ luật số 45/2019/QH14, Luật số 59/2020/QH14, Luật số 13/2022/QH15, Luật số 19/2023/QH15, Luật số 34/2024/QH15, Luật số 46/2024/QH15 và Luật số 85/2025/QH15;
Căn cứ Luật Tố tụng hành chính số 93/2015/QH13 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 55/2019/QH14, Luật số 34/2024/QH15 và Luật số 85/2025/QH15;
Căn cứ Luật thi hành tạm giữ, tạm giam số 94/2015/QH13;
Căn cứ Luật Phòng chống, chống mua bán người số 53/2024/QH15;
Căn cứ Luật Tư pháp người chưa thành niên số 59/2024/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 85/2025/QH15;
Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Tài chính và Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao liên tịch ban hành Thông tư liên tịch sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư liên tịch số 10/2018/TTLT/BTP-BCA-BQP-BTC-TANDTC-VKSNDTC ngày 29 tháng 6 năm 2018 quy định về phối hợp thực hiện trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng.
Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư liên tịch số 10/2018/TTLT-BTP-BCA-BQP-BTC-TANDTC-VKSNDTC ngày 29 tháng 6 năm 2018 quy định về phối hợp thực hiện trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng
1. Sửa đổi, bổ sung một số điểm, khoản của Điều 3 như sau:
a) Sửa đổi, bổ sung điểm b khoản 2 như sau:
“b) Đơn yêu cầu trợ giúp pháp lý, Phiếu thông tin về quyền được trợ giúp pháp lý, Biên bản giải thích về quyền được trợ giúp pháp lý miễn phí của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị buộc tội, bị hại, đương sự, người làm chứng, phạm nhân (sau đây gọi là người được giải thích về trợ giúp pháp lý), Thông báo về trợ giúp pháp lý, Thông tin về trợ giúp pháp lý, Biên bản từ chối yêu cầu trợ giúp pháp lý và Sổ theo dõi vụ việc trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng theo các Mẫu số 01, 02, 03, 04, 04A và 05 ban hành kèm theo Thông tư liên tịch này;”;
b) Sửa đổi, bổ sung điểm c khoản 2 như sau:
“c) Danh sách, số điện thoại của người thực hiện trợ giúp pháp lý và tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý.”;
c) Sửa đổi, bổ sung khoản 4 như sau:
“4. Trường hợp nhận được thông báo của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng thì Trung tâm, Chi nhánh có trách nhiệm cử người thực hiện trợ giúp pháp lý trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo. Nếu vụ việc thuộc trường hợp thụ lý ngay thì Trung tâm, Chi nhánh cử ngay người thực hiện trợ giúp pháp lý cho người được trợ giúp pháp lý.
Trường hợp nhận được thông báo, thông tin của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng thì Trung tâm, Chi nhánh có trách nhiệm kiểm tra diện người được trợ giúp pháp lý, cử người thực hiện trợ giúp pháp lý nếu họ là người được trợ giúp pháp lý, thông tin lại cho cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng chuyển đến biết nếu họ không thuộc diện được trợ giúp pháp lý hoặc không có yêu cầu trợ giúp pháp lý.
Nếu người được giải thích về trợ giúp pháp cần phiên dịch thì Trung tâm, Chi nhánh đề nghị cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền của cơ sở giam giữ, trại giam yêu cầu người phiên dịch.”.
2. Sửa đổi, bổ sung một số điểm, khoản của Điều 7 như sau:
a) Sửa đổi, bổ sung điểm a và điểm b khoản 1 như sau:
“a) Khi lấy lời khai lần đầu của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, bị hại, người làm chứng, đương sự, tại thời điểm bắt, tạm giữ người, hỏi cung bị can, đương sự nộp đơn trực tiếp tại Tòa án hoặc tại thời điểm gửi thông báo thụ lý vụ án, vụ việc, thông báo thụ lý đơn yêu cầu, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm chuyển Phiếu thông tin về quyền được trợ giúp pháp lý theo Mẫu số 01 ban hành kèm theo Thông tư liên tịch này cho họ đọc. Trường hợp họ không tự đọc được thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm đọc và giải thích cho họ.
Trường hợp họ tự nhận mình là người được trợ giúp pháp lý hoặc cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng xác định họ là người được trợ giúp pháp lý thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm giải thích về quyền được trợ giúp pháp lý theo quy định của pháp luật về trợ giúp pháp lý và pháp luật về tố tụng. Việc giải thích được thực hiện kịp thời, đầy đủ, bằng ngôn ngữ dễ hiểu ở các giai đoạn của quá trình tố tụng, trừ trường hợp họ đang được trợ giúp pháp lý;
b) Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm đọc, hướng dẫn cụ thể nội dung và điền thông tin vào Biên bản giải thích về quyền được trợ giúp pháp lý miễn phí theo Mẫu số 02 ban hành kèm theo Thông tư liên tịch này. Biên bản giải thích được lưu tại hồ sơ vụ án, vụ việc.”.
b) Sửa đổi, bổ sung khoản 2 như sau:
“2. Thông báo, thông tin về trợ giúp pháp lý
Việc thông báo, thông tin về trợ giúp pháp lý được thực hiện như sau:
Trường hợp người được giải thích về trợ giúp pháp lý là người thuộc diện được trợ giúp pháp lý hoặc tự nhận mình là người thuộc diện được trợ giúp pháp lý thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng cung cấp mẫu Đơn yêu cầu trợ giúp pháp lý để họ làm đơn, trường hợp họ không thể tự mình viết đơn thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng điền giúp thông tin, sau đó đọc lại cho họ nghe và yêu cầu họ ký tên hoặc điểm chỉ.
Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm thông báo ngay bằng điện thoại hoặc phương tiện điện tử khác, đồng thời thông báo bằng văn bản và gửi kèm theo Đơn yêu cầu trợ giúp pháp lý cho Trung tâm, Chi nhánh để thực hiện các quy định tại khoản 4 Điều 3 của Thông tư liên tịch này. Việc thông báo được thực hiện theo Mẫu số 03 ban hành kèm theo Thông tư liên tịch này, ghi vào biên bản tố tụng và lưu tại hồ sơ vụ án, vụ việc.
Trường hợp người được giải thích về trợ giúp pháp lý tự nhận mình là người được trợ giúp pháp lý và chưa có yêu cầu trợ giúp pháp lý thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm thông tin cho Trung tâm, Chi nhánh biết để thực hiện các quy định tại khoản 4 Điều 3 của Thông tư liên tịch này. Việc thông tin được thực hiện theo Mẫu số 04 ban hành kèm theo Thông tư liên tịch này.
Trường hợp họ từ chối trợ giúp pháp lý (trừ trường hợp chỉ định người bào chữa theo quy định tại Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự) thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng lập Biên bản từ chối trợ giúp pháp lý theo Mẫu số 04A ban hành kèm theo Thông tư liên tịch này và lưu tại hồ sơ vụ án, vụ việc”.
3. Sửa đổi, bổ sung khoản 4 Điều 8 như sau:
“4. Niêm yết Bảng thông tin về trợ giúp pháp lý, danh sách, số điện thoại của người thực hiện trợ giúp pháp lý và tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý.”.
4. Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 2 Điều 10 như sau:
“a) Giải thích, thông báo, thông tin về trợ giúp pháp lý theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 7 của Thông tư liên tịch này cho phạm nhân thuộc diện được trợ giúp pháp lý đang chấp hành án tại trại giam là người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, người làm chứng, người bị buộc tội, bị hại hoặc đương sự trong vụ án, vụ việc khác do có hành vi phạm tội, xâm hại hoặc có liên quan đến vụ án, vụ việc trước khi chấp hành án;”.
5. Bổ sung Điều 11a vào sau Điều 11 như sau:
“Điều 11a. Trách nhiệm báo cáo, thống kê
Hàng năm, Sở Tài chính, Công an, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh gửi báo cáo kết quả triển khai Thông tư liên tịch này cho Sở Tư pháp; Bộ Tư lệnh cấp quân khu và tương đương, Bộ Tư lệnh Thủ đô Hà Nội gửi báo cáo kết quả triển khai Thông tư liên tịch này cho Sở Tư pháp (tại địa phương có trụ sở Bộ Tư lệnh) tổng hợp. Việc báo cáo được thực hiện 02 lần/năm: lần 1 từ 01/01 đến 31/10, gồm kết quả triển khai Thông tư liên tịch này và số liệu tổng hợp theo Mẫu số 05 ban hành kèm theo Thông tư liên tịch này; lần 2 từ 01/01 đến 31/12, chỉ báo cáo số liệu theo Mẫu số 05 ban hành kèm theo Thông tư liên tịch này. Thời hạn Sở Tư pháp nhận báo cáo lần 01 là ngày 05/11; nhận báo cáo lần 02 là ngày 10/01 năm sau.
Sở Tư pháp tổng hợp, báo cáo kết quả triển khai Thông tư liên tịch này gửi Bộ Tư pháp theo Mẫu số 06A, 06B và Mẫu số 06C ban hành kèm theo Thông tư liên tịch này. Thời hạn nhận báo cáo lần 01 là ngày 20/11; nhận báo cáo lần 02 là ngày 20/01 năm sau”.
6. Sửa đổi, bổ sung Điều 22 như sau:
“Điều 22. Trách nhiệm thực hiện
Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tài chính, Toà án nhân dân tối cao và Viện Kiểm sát nhân dân tối cao; Sở Tư pháp, Sở Tài chính, Công an, Toà án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh; Bộ Tư lệnh cấp quân khu và tương đương, Bộ Tư lệnh Thủ đô Hà Nội có trách nhiệm:
1. Quán triệt, chỉ đạo, theo dõi, kiểm tra các đơn vị có liên quan do mình quản lý thực hiện đầy đủ các nội dung quy định tại Thông tư liên tịch này.
2. Thực hiện nhiệm vụ theo quy định tại Thông tư liên tịch này.”.
7. Sửa đổi khoản 4 Điều 23 như sau:
“Bộ Tư pháp (Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý) lập dự toán kinh phí thực hiện các nhiệm vụ phối hợp trợ giúp pháp lý theo quy định của pháp luật về trợ giúp pháp lý ở Trung ương (nội dung quy định tại các điểm a, d, đ và g khoản 2 Điều này); Sở Tư pháp (Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước) lập dự toán kinh phí thực hiện các nhiệm vụ phối hợp trợ giúp pháp lý ở địa phương (nội dung quy định tại khoản 2 Điều này) theo quy định hiện hành về phân cấp ngân sách nhà nước.”.
Điều 2. Bổ sung, thay thế một số cụm từ, mẫu và bãi bỏ một số từ, cụm từ, điểm, khoản, điều, mẫu của Thông tư liên tịch số 10/2018/TTLT-BTP-BCA-BQP-BTC-TANDTC-VKSNDTC
1. Bổ sung cụm từ “và một số cơ quan, tổ chức có liên quan khác” sau cụm từ “người có thẩm quyền của cơ sở giam giữ, trại giam” tại tên Chương III.
2. Thay thế cụm từ “hoặc phương tiện khác có chứa nội dung thông tin về trợ giúp pháp lý dạng âm thanh (MP3, WMA hoặc WMV)” bằng cụm từ “hoặc phương tiện điện tử khác có nội dung thông tin về trợ giúp pháp lý” tại khoản 3 Điều 3.
3. Thay thế cụm từ “hoặc USB có chứa nội dung thông tin về trợ giúp pháp lý dạng âm thanh (MP3, WMA hoặc WMV)” bằng cụm từ “USB hoặc phương tiện điện tử khác có nội dung thông tin về trợ giúp pháp lý” tại điểm b khoản 2 Điều 23.
4. Bỏ cụm từ “Trưởng nhà tạm giữ, Phó Trưởng nhà tạm giữ và người làm nhiệm vụ quản giáo trong nhà tạm giữ” tại khoản 4 Điều 2, bỏ cụm từ “Hộp tin trợ giúp pháp lý; tờ gấp pháp luật” tại điểm a khoản 2 Điều 3 và điểm b khoản 2 Điều 23.
5. Bãi bỏ điểm c khoản 1 Điều 7.
6. Bãi bỏ Chương V.
7. Bỏ cụm từ và một số điểm, khoản tại Điều 23 như sau:
a) Bỏ cụm từ “cho thành viên Hội đồng phối hợp liên ngành Trung ương, địa phương và thành viên Tổ giúp việc cho Hội đồng” tại điểm d và điểm đ khoản 2 Điều 23;
b) Bãi bỏ điểm e khoản 2 và khoản 3 Điều 23.
8. Bãi bỏ Điều 24.
9. Bổ sung Mẫu số 04A.
10. Thay thế các Mẫu số 01, 02, 03, 04, 05, 06A, 06B, 06C ban hành kèm theo Thông tư liên tịch số 10/2018/TTLT-BTP-BCA-BQP-BTC-TANDTC-VKSNDTC bằng các Mẫu số 01, 02, 03, 04, 05, 06A, 06B, 06C ban hành kèm theo Thông tư liên tịch này.
Điều 3. Hiệu lực thi hành
Thông tư liên tịch này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký./.